Thực hiện Hiệp ước hoạch định biên giới năm 1977, từ năm 1978 đến 1987, Việt Nam và Lào đã phối hợp thực hiện và hoàn thành việc phân giới toàn bộ đường biên giới ở trên thực địa, xây dựng được tổng số 214 cột mốc tại 199 vị trí mốc. Hệ thống mốc quốc giới này đã đóng một vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý biên giới chung giữa hai nước.
1. Cơ sở thực tiễn của công tác tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam - Lào
Thực hiện Hiệp ước hoạch định biên giới năm 1977, từ năm 1978 đến 1987, Việt Nam và Lào đã phối hợp thực hiện và hoàn thành việc phân giới toàn bộ đường biên giới ở trên thực địa, xây dựng được tổng số 214 cột mốc tại 199 vị trí mốc. Hệ thống mốc quốc giới này đã đóng một vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý biên giới chung giữa hai nước.
Tuy nhiên, sau hơn 20 năm, hệ thống mốc quốc giới Việt Nam - Lào được cắm từ những năm 1980 đã bộc lộ một số hạn chế, không đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý biên giới trong tình hình mới, cụ thể:
- Thứ nhất, với đường biên giới dài hơn 2.000 km mà chỉ có 199 vị trí mốc thì mật độ quá thưa, bình quân trên 10 km một mốc, cá biệt có những nơi hai cột mốc cách xa nhau hơn 40 km, gây khó khăn cho việc nhận biết đường biên giới và công tác quản lý biên giới.
- Thứ hai, do được thiết kế và xây dựng vào thời kỳ sau chiến tranh, hai nước còn nhiều khó khăn, năng lực, trang thiết bị kỹ thuật còn hết sức hạn chế, nên mốc có chất lượng không cao, không bền vững.
- Thứ ba, từ sau khi hoàn thành việc phân giới, cắm mốc và ký kết Hiệp định về quy chế biên giới, hai bên đã phối hợp mở và nâng cấp nhiều cửa khẩu biên giới cùng với các công trình mới được xây dựng khang trang, hiện đại, khiến cho hình thức và kích thước mốc cũ ở cửa khẩu quốc tế và cửa khẩu chính không còn phù hợp, không tương xứng với ý nghĩa là mốc quốc giới.
Xuất phát từ thực tiễn trên, nhằm hoàn thiện chất lượng của đường biên giới, xây dựng một hệ thống mốc quốc giới khang trang, chính quy, hiện đại, đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý biên giới trong tình hình mới, lãnh đạo cấp cao hai nước đã thống nhất cùng phối hợp xây dựng và thực hiện Dự án tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam - Lào, coi đây là một trong những nội dung hợp tác quan trọng giữa hai nước, phục vụ nhu cầu phối hợp quản lý, bảo vệ biên giới ổn định lâu dài.
2. Nội dung Dự án tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam - Lào
Dự án tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam - Lào gồm có 9 nội dung chính sau đây:
- Thứ nhất, về mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ của dự án, hai bên thống nhất theo đúng chỉ đạo của lãnh đạo cấp cao, gồm: (i) Tăng dày hệ thống mốc quốc giới ở những vị trí cần thiết để làm rõ đường biên giới; (ii) Tôn tạo các mốc hiện có và mốc tại cửa khẩu biên giới để đảm bảo kiên cố, vững chắc, khang trang; (iii) Hoàn thiện hồ sơ pháp lý về đường biên giới Việt Nam - Lào (lập lại hồ sơ mốc giới và Nghị định thư ghi nhận toàn bộ thành quả giải quyết biên giới giữa hai nước cho phù hợp với số liệu đo đạc tại thực địa và trên bản đồ đường biên giới quốc gia Việt Nam - Lào tỷ lệ 1/50.000 do hai nước cùng thành lập).
- Thứ hai, về hệ thống mốc quốc giới: Hai bên thống nhất dự kiến số lượng, vị trí mốc tăng dày và tôn tạo trên toàn tuyến biên giới và thể hiện cụ thể trên 63 mảnh bản đồ tỷ lệ 1/50.000 mới thành lập. Đồng thời, thống nhất mẫu thiết kế, chất liệu xây dựng, nội dung thể hiện trên mặt từng loại mốc (mốc đại, mốc trung, mốc tiểu) và quy cách đặt số hiệu cho cả hệ thống mốc theo số thứ tự từ Bắc xuống Nam.
- Thứ ba, về các quy định pháp lý - kỹ thuật: Để phục vụ việc đo đạc, xác định vị trí mốc trên thực địa và hoàn thiện các tài liệu pháp lý, hai bên thống nhất "Quy trình kỹ thuật xác định vị trí mốc trên thực địa" và nhất trí sử dụng các trạm GPS đặt tại Việt Nam đo nối với các điểm khống chế tọa độ và độ cao thuộc lưới khống chế cơ sở biên giới Việt Nam - Lào. Hai bên cũng thống nhất quy trình soạn thảo và mẫu các loại văn bản pháp lý song phương để nghiệm thu kết quả thực hiện dự án.
- Thứ tư, về tổ chức quản lý và thực hiện dự án, hai bên nhất trí cơ chế phối hợp song phương gồm ba cấp: (i) Cấp trung ương có Uỷ ban liên hợp, Đoàn chuyên viên liên hợp và Tổ chuyên viên pháp lý, kỹ thuật và tài chính; (ii) Cấp tỉnh có Ban Chỉ đạo cắm mốc tỉnh; (iii) Cấp đội cắm mốc (tổ chức 10[1] Đội cắm mốc liên hợp). Hai bên cũng đã quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cấp để phối hợp quản lý và tổ chức thực hiện dự án.
- Thứ năm, về phân công thực hiện dự án: Hai bên thống nhất phân công cụ thể đối với từng hạng mục công việc của dự án. Trong đó, phía Lào nhất trí phân công phía Việt Nam đảm nhận phần việc xây dựng mốc (bao gồm cả khâu sản xuất mốc, vận chuyển vật tư, vật liệu và công tác bảo đảm để thi công mốc) và lắp đặt trạm GPS tạm thời, dưới sự tổ chức giám sát chung của hai bên.
- Thứ sáu, về kế hoạch tiến độ thực hiện: Hai bên thống nhất thời gian thực hiện dự án từ 5 đến 7 năm kể từ khi hai Chính phủ phê duyệt và cho phép triển khai thực hiện.
- Thứ bảy, về dự toán kinh phí: Hai bên thống nhất mỗi bên tự tính toán trên cơ sở khối lượng công việc được phân công và theo đơn giá, định mức hiện hành của bên mình để xác định tổng dự toán kinh phí và tổng hợp vào dự án chung.
- Thứ tám, về nguồn vốn thực hiện dự án: Phía Việt Nam sử dụng 100% vốn ngân sách Nhà nước. Phía Lào đề nghị phía Việt Nam giúp đỡ từ nguồn vốn viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Việt Nam dành cho Chính phủ Lào.
- Thứ chín, về đánh giá tác động môi trường: Hai bên đánh giá mặc dù dự án có tổng vốn đầu tư lớn và quy mô trải dài trên địa bàn 10 cặp tỉnh biên giới Việt Nam - Lào, nhưng về thực chất thi công tại hiện trường chỉ là những điểm nhỏ, cách xa nhau; giá trị xây dựng trực tiếp của mỗi mốc chỉ vài chục triệu đồng, còn lại là các chi phí gián tiếp và các chi phí liên quan đến hoạt động song phương... Do đó, về mặt tác động môi trường tại mỗi vị trí xây dựng mốc chỉ tương ứng với một công trình xây dựng rất nhỏ bé, nên nhất trí kết luận dự án bảo đảm yêu cầu về an toàn vệ sinh môi trường.
3. Tình hình thực hiện công tác tăng dày, tôn tạo mốc quốc giới
a) Những thuận lợi, khó khăn
* Công tác tăng dày, tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam - Lào có những thuận lợi cơ bản là:
- Thứ nhất, công tác này được lãnh đạo cấp cao hai nước quan tâm, chỉ đạo sát sao và đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để triển khai thực hiện; các bộ, ngành và địa phương hai bên đều hết sức phấn khởi ủng hộ và quyết tâm phối hợp hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
- Thứ hai, đường biên giới Việt Nam - Lào đã được hoạch định, phân giới cắm mốc; các tồn đọng và mâu thuẫn, sai lệch đã được giải quyết xong, nên việc xác định vị trí mốc cơ bản là thuận lợi.
- Thứ ba, dự án được các bộ, ngành và địa phương hữu quan của hai nước dày công phối hợp nghiên cứu, nên khối lượng công việc được xác định cơ bản đầy đủ, rõ ràng, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho khâu lập kế hoạch và dự toán kinh phí thực hiện công tác cắm mốc hàng năm.
- Thứ tư, việc tổ chức thực hiện Kế hoạch tổng thể của phía ta đã đúc rút nhiều kinh nghiệm từ việc phân giới cắm mốc biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc, Việt Nam - Campuchia, nên vấn đề tổ chức, điều hành, quản lý, sử dụng kinh phí là những vướng mắc trước đây thì đến nay cơ bản đã được giải quyết.
- Thứ năm, Chính phủ đã cho phép đầu tư mua sắm những máy móc, trang thiết bị đo đạc hiện đại nhất, đảm bảo cho lực lượng kỹ thuật làm việc có hiệu quả, đảm bảo độ chính xác.
* Bên cạnh những thuận lợi, việc triển khai công tác cắm mốc cũng gặp phải không ít khó khăn cả về khách quan lẫn chủ quan, nhất là công tác ngoại nghiệp:
- Một là, khu vực biên giới Việt Nam - Lào có địa hình hết sức hiểm trở, thời tiết khắc nghiệt, mưa lũ thất thường, nên việc vận chuyển vật tư, vật liệu lên đường biên giới là một trở ngại lớn, đặc biệt là việc vận chuyển thân mốc (mốc tiểu nặng 250kg, mốc trung nặng 480kg, mốc đại nặng gần 1000kg).
- Hai là, hầu hết trên các địa bàn triển khai công tác cắm mốc là vùng sâu, vùng xa, chưa có đường giao thông, dân cư thưa thớt, kinh tế - xã hội chậm phát triển nên rất khó huy động phương tiện, trang bị kỹ thuật và dân công.
- Ba là, dọc tuyến biên giới, trong lòng đất, khe núi, đáy sông còn nhiều bom mìn và vật cản nổ do chiến tranh để lại có thể phát nổ bất kỳ lúc nào.
- Bốn là, trong quá trình triển khai công tác cắm mốc đã nảy sinh một số nội dung công việc phức tạp như: xử lý mâu thuẫn giữa lời văn mô tả hướng đi của đường biên giới với bản đồ và thực địa; xử lý các sai phạm khi thi công đường tuần tra biên giới; cắm thêm một số cọc dấu nhằm làm rõ hướng đi đường biên giới tại những khu vực cần thiết v.v…
- Bên cạnh đó, các thế lực thù địch có các hoạt động chống phá, kích động đồng bào dân tộc thiểu số ngăn cản việc thi công, xây dựng mốc, lực lượng thổ phỉ thường xuyên có các hành vi gây nguy hại cho công tác bảo vệ cột mốc, bảo đảm an ninh, an toàn cho lực lượng cắm mốc.
b) Tình hình, kết quả cắm mốc trên thực địa
Để có kinh nghiệm cắm mốc trên thực địa, hai bên thống nhất làm thí điểm công trình mốc đại ở khu vực cửa khẩu quốc tế Lao Bảo (Quảng Trị) - Đensavẳn (Sạ Vẳn Nạ Khệt); Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị được giao tiến hành thi công công trình dưới sự giám sát của phía Lào và đã hoàn thành trong tháng 8-2008, bảo đảm đúng vị trí mốc, các yêu cầu về thiết kế và kỹ thuật đã được hai bên thỏa thuận. Đây là cột mốc đôi số 605, phía Việt Nam là cột mốc 605(1), phía Lào là cột mốc 605(2). Ngày 05/9/2008, tại cửa khẩu quốc tế Lao Bảo (Quảng Trị) - Đensavẳn (Sạ Vẳn Nạ Khệt), Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Gia Khiêm và Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Lào Thoonglun Xixulít đồng chủ trì buổi Lễ khánh thành công trình mốc, chính thức khởi động công tác cắm mốc trên toàn tuyến biên giới Việt Nam - Lào.
Từ giữa tháng 9/2008, hai bên đồng loạt triển khai công tác cắm mốc trên toàn tuyến; đến cuối tháng 6/2013, xây dựng được 834 cột mốc tại 792 vị trí mốc và cắm bổ sung 29 cọc dấu tại 27 vị trí đường biên giới. Thành quả này được ghi nhận bằng Lễ Chào mừng hoàn thành công tác cắm mốc biên giới Việt Nam - Lào trên thực địa, tổ chức ngày 9/7/2013 tại cửa khẩu Thanh Thủy (Nghệ An) - Nậm On (Bô Ly Khăm Xay), với sự tham dự và chủ trì của Thủ tướng Chính phủ hai nước.
Giai đoạn từ tháng 7/2013 đến 10/2015, hai bên phối hợp xác định và xây dựng thêm 139 cọc dấu tại 86 vị trí đường biên giới, nâng tổng số cọc dấu trên toàn tuyến là 168 cọc dấu/113 vị trí; hoàn thành việc dịch chuyển 5 cột mốc và 1 cọc dấu đã xây dựng tới vị trí mới trên đường biên giới do cắm chệch đoạn biên giới kẻ thẳng hoặc không phù hợp với địa hình thực địa; hoàn thành đo tọa độ và độ cao bằng máy GPS hai tần số đối với 1002 mốc quốc giới và hơn 70 điểm kiểm tra đặc trưng địa hình khác; hoàn thành việc đo đạc để bổ sung cập nhật lên bộ bản đồ số đường biên giới quốc gia Việt Nam - Lào tỷ lệ 1/50.000 các đoạn đường tuần tra biên giới mới thi công...
c) Tình hình, kết quả công tác nội nghiệp
Trên cơ sở kết quả cắm mốc trên thực địa, hai bên đã lập, kiểm tra, nghiệm thu 1002 bộ hồ sơ pháp lý mốc quốc giới (gồm biên bản cắm mốc và kết quả đo tọa độ và độ cao mốc quốc giới bằng máy GPS hai tần số), tiến hành đối chiếu nhằm bảo đảm nội dung của toàn bộ 1002 bộ hồ sơ mốc quốc giới và cọc dấu (tiếng Việt - Lào và tiếng Lào - Việt) thống nhất với nội dung dự thảo Nghị định thư về đường biên giới và mốc quốc giới Việt Nam - Lào và bộ bản đồ biên giới quốc gia Việt Nam - Lào tỷ lệ 1/50.000.
Hai bên cũng tiến hành việc rà soát, kiểm tra công tác biên tập phục vụ chế in toàn bộ bản đồ, sơ đồ trích phóng (cả mảnh bản đồ tiếng Việt - Lào và tiếng Lào - Việt), gồm: 126 mảnh bản đồ tỷ lệ 1/50.000; 36 mảnh bản đồ tỷ lệ 1/10.000 của khu vực 16 cặp cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính và 5 khu vực có sự sai khác lớn về địa hình giữa bản đồ và thực địa; 118 sơ đồ trích phóng từ bản đồ tỷ lệ 1/50.000 đối với các khu vực cắm mốc đôi, mốc ba hoặc khu vực có nhiều mốc và cọc dấu.
Ghi nhận những kết quả đã đạt được nêu trên, hai bên đã tiến hành in chính thức:
i) 63 mảnh bản đồ đường biên giới quốc gia Việt Nam - Lào tỷ lệ 1/50.000 thể hiện toàn bộ đường biên giới và vị trí mốc quốc giới giữa hai nước (được đánh số từ Bắc xuống Nam, từ mảnh số 01(63) đến mảnh số 63(63)); lập thành hai bộ, một bộ tiếng Việt - Lào và một bộ tiếng Lào - Việt.
ii) 18 mảnh bản đồ đường biên giới quốc gia Việt Nam - Lào tỷ lệ 1/10.000 đối với 16 khu vực cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính, khu vực cửa khẩu phụ Tam Hợp (Nghệ An) - Thoong My Xay (Bô Ly Khăm Xay) và khu vực mốc số 139; lập thành hai bộ, một bộ tiếng Việt - Lào và một bộ tiếng Lào - Việt.
Hai bên cũng đã phối hợp xây dựng và hoàn thiện dự thảo "Nghị định thư về đường biên giới và mốc quốc giới giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHDCND Lào" (kèm theo các tài liệu, bản đồ ghi nhận toàn bộ thành quả công tác biên giới giữa hai nước) và "Hiệp định về Quy chế quản lý biên giới và cửa khẩu biên giới trên đất liền giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHDCND Lào", trình Chủ tịch nước hai nước cho phép đại diện hai nước Việt Nam và Lào ký chính thức hai văn kiện quan trọng này trong Lễ tổng kết việc hoàn thành Dự án tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam - Lào.
Ngày 16/3/2016, tại Hà Nội, Chính phủ Việt Nam và Lào long trọng tổ chức Lễ tổng kết cấp Nhà nước việc hoàn thành Dự án tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam - Lào. Tại buổi Lễ tổng kết, trước sự chứng kiến của Thủ tướng Chính phủ hai nước và toàn thể đại biểu hai bên, Phó Thủ tướng Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh và Phó Thủ tướng Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lào Thoonglun Xixulit đã cùng nhau ký "Nghị định thư về đường biên giới và mốc quốc giới giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHDCND Lào" và "Hiệp định về quy chế quản lý biên giới và cửa khẩu biên giới trên đất liền giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHDCND Lào".
Hai văn kiện pháp lý nêu trên đã được cấp có thẩm quyền hai nước phê chuẩn và chính thức có hiệu lực từ ngày 05/9/2017, đúng vào dịp kỷ niệm 55 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước (05/9/1962 - 05/9/2017).
4. Ý nghĩa của việc hoàn thành công tác tăng dày, tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam - Lào
Việc hoàn thành thắng lợi công tác tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam - Lào là nguyện vọng chung và lợi ích lớn của nhân dân hai nước, có ý nghĩa hết sức thiết thực và to lớn về mọi mặt, cụ thể là:
- Một là, việc hoàn thành công tác tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam - Lào thể hiện rõ quyết tâm của hai Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam và Lào vì một đường biên giới chung giữa hai nước hoà bình, ổn định, hợp tác cùng phát triển.
- Hai là, việc ký kết Nghị định thư về đường biên giới và mốc quốc giới Việt Nam - Lào và Hiệp định về quy chế quản lý biên giới và cửa khẩu biên giới Việt Nam - Lào có ý nghĩa hết sức quan trọng. Hai văn kiện này cùng với Hiệp ước hoạch định biên giới Việt Nam - Lào năm 1977 và các văn kiện biên giới đã ký kết trở thành bộ hồ sơ pháp lý hoàn chỉnh nhất về đường biên giới hai nước, tạo cơ sở pháp lý và thực tiễn thuận lợi, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác quản lý biên giới trong tình hình mới, xây dựng đường biên giới Việt Nam - Lào hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển.
- Ba là, chất lượng đường biên giới Việt Nam - Lào được nâng lên cả về pháp lý và trên thực địa. Theo đó, đường biên giới được mô tả và thể hiện chi tiết trong Nghị định thư về đường biên giới và mốc quốc giới và bộ bản đồ đính kèm. Trên thực địa, đường biên giới được thể hiện rõ ràng bằng một hệ thống mốc quốc giới chính quy, hiện đại, bảo đảm tính trường tồn và thống nhất trên toàn tuyến. Thành quả này đã góp phần giải quyết triệt để các vấn đề về biên giới lãnh thổ giữa hai nước, đồng thời tạo cơ sở để các ngành chức năng tiến hành quản lý biên giới một cách hiệu quả, ngăn ngừa hiện tượng xâm canh xâm cư do thiếu nhận biết về vị trí đường biên giới; mở ra cơ hội mới cho công cuộc phát triển của mỗi nước, đặc biệt là tạo điều kiện cho các địa phương biên giới hai bên mở rộng hợp tác, phát triển kinh tế, tăng cường giao lưu hữu nghị.
- Bốn là, trên bình diện chính trị - pháp lý, việc hoàn thành công tác tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam - Lào là thành quả chung của nhân dân hai nước, là minh chứng thuyết phục cho việc hai bên giải quyết vấn đề biên giới, lãnh thổ trên cơ sở thương lượng bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và lợi ích chính đáng của nhau, hợp tác cùng phát triển, phù hợp với pháp luật và thực tiễn quốc tế.
Nguồn: Tài liệu Tổng quan về biên giới Việt Nam - Lào (http://baochinhphu.vn/Tin-noi-bat/Hoan-thanh-toan-bo-qua-trinh-phan-gioi-cam-moc-bien-gioi-Viet-Lao/317020.vgp)
[1] Trong quá trình triển khai, để đẩy nhanh tiến độ cắm mốc, hai bên đã thống nhất tổ chức thêm 04 Đội cắm mốc liên hợp.