TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN, TOÀN QUÂN RA SỨC THI ĐUA THỰC HIỆN THẮNG LỢI NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG!
Đoàn thể và các Hội
Đăng ngày: 30/11/2025 - Lượt xem: 304
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh - kim chỉ nam trong xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta

Sáng ngày 30/11, tại Quảng trường Thái Bình (phường Trà Lý), Hội Bảo trợ người khuyết tật và Bảo vệ quyền trẻ em tỉnh Hưng Yên phát động hưởng ứng chương trình chạy bộ trực tuyến gây quỹ vì cộng đồng UpRace 2025 trên địa bàn tỉnh Hưng Yên với sự tham gia của hơn 100 vận động viên.

Ảnh minh hoạ

Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc là một trong những trụ cột nền tảng của tư tưởng Hồ Chí Minh. Bài viết phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và nội dung cốt lõi của tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, phân tích quá trình Đảng và Nhà nước ta vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc trong việc xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc, đặc biệt thông qua các chủ trương lớn, chương trình mục tiêu quốc gia và hệ thống pháp luật nhằm thúc đẩy sự phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.

Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành kim chỉ nam xuyên suốt trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Đảng và Nhà nước ta. Kế thừa chủ nghĩa Mác - Lênin và truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, cố kết cộng đồng của dân tộc, Người đã phát triển hệ thống tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc mang nội hàm sâu sắc, tầm nhìn chiến lược và giá trị lâu dài. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, đây không chỉ là khẩu hiệu chính trị, mà là triết lý hành động và phương pháp luận cách mạng, thấm sâu trong mọi giai đoạn lịch sử - từ đấu tranh giành độc lập, kháng chiến, đến xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ hòa bình, đổi mới, hội nhập.

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc và thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, việc kế thừa và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc càng trở nên cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Điều này đặc biệt quan trọng trong xây dựng và thực thi chính sách dân tộc - lĩnh vực tác động trực tiếp đến hàng triệu đồng bào dân tộc thiểu số và giữ vai trò chiến lược đối với sự ổn định, phát triển của đất nước ta.

Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò, sứ mệnh, sức mạnh của tinh thần đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân tộc. Người khẳng định: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số Nhân dân, mà đại đa số Nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp Nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp Nhân dân khác. Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ”(1).

Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc là một trong những nội dung cốt lõi và xuyên suốt trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, phản ánh sâu sắc quan điểm nhân văn, cách mạng và khoa học của Người về vai trò, vị trí của sức mạnh cộng đồng trong tiến trình lịch sử của dân tộc. Đại đoàn kết dân tộc, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, không chỉ là chiến lược vận động quần chúng mà còn là một phương thức tổ chức xã hội, là “cội nguồn của mọi thắng lợi” trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

a) Cơ sở hình thành tư tưởng

Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh được hình thành và phát triển trên nền tảng ba trụ cột chính:

Thứ nhất, kế thừa và phát huy truyền thống đoàn kết, cố kết cộng đồng trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Từ thời Hùng Vương dựng nước đến các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, dân tộc Việt Nam luôn biết phát huy tinh thần gắn bó keo sơn giữa các thành phần dân tộc, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong bảo vệ và xây dựng đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tư duy lịch sử sâu sắc, đã kế thừa truyền thống đó để phát triển thành một hệ tư tưởng mang tầm vóc thời đại.

Thứ hai, sự tiếp thu có chọn lọc những giá trị tiến bộ của chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là tư tưởng về vai trò của quần chúng nhân dân - lực lượng sáng tạo chân chính của lịch sử. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng linh hoạt nguyên lý “Quần chúng là người làm nên lịch sử” vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, coi đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là yêu cầu chiến lược, mà còn là động lực nội tại của mọi phong trào cách mạng.

Thứ ba, được hun đúc và kiểm nghiệm qua thực tiễn cách mạng phong phú, từ phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX, đến việc lãnh đạo thành công cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, cũng như trong xây dựng chính quyền nhân dân và phát triển đất nước. Những bài học từ thực tiễn cách mạng giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày càng hoàn thiện tư tưởng đại đoàn kết trên cơ sở gắn lý luận với hành động, gắn nguyên tắc với tính linh hoạt trong tổ chức và vận dụng.

b) Nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

Một là, đại đoàn kết dân tộc là vấn đề sống còn của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công”. Theo Người, đoàn kết không phải là sách lược nhất thời mà là chiến lược lâu dài, là nguyên tắc chỉ đạo xuyên suốt trong mọi giai đoạn cách mạng.

Hai là, khái niệm “dân tộc” trong tư tưởng Hồ Chí Minh mang nghĩa rộng, bao gồm mọi thành phần trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, giai cấp, giới tính, nghề nghiệp hay khu vực cư trú. Đại đoàn kết phải được thực hiện một cách toàn diện và rộng rãi nhất có thể.

Ba là, đại đoàn kết phải dựa trên nền tảng của lòng yêu nước, tinh thần nhân ái, khoan dung và tôn trọng sự khác biệt. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò của sự tôn trọng đa dạng văn hóa, tín ngưỡng, phong tục, tập quán trong xây dựng khối đoàn kết. Người viết: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê-đăng hay Ba Na… đều là con cháu Việt Nam, máu đỏ da vàng, cùng sống trên mảnh đất hình chữ S này, phải yêu thương nhau như anh em một nhà”.

Bốn là, đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền với công bằng, dân chủ và tiến bộ xã hội. Không thể xây dựng được khối đoàn kết thực chất nếu không đảm bảo quyền lợi, vị thế và sự tham gia bình đẳng của mọi dân tộc, trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số.

c) Phương thức thực hiện đại đoàn kết

Thứ nhất, thành lập và phát huy vai trò của Mặt trận dân tộc thống nhất với các hình thức như Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhằm tập hợp sức mạnh toàn dân, từ công nhân, nông dân, trí thức đến các tầng lớp tôn giáo, dân tộc thiểu số, Việt kiều…

Thứ hai, thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ giữa các dân tộc, lấy phát triển làm trung tâm, đồng thời chú trọng bảo tồn văn hóa đặc thù.

Thứ ba, đề cao vai trò của cán bộ, đảng viên trong việc nêu gương và làm cầu nối đoàn kết giữa các dân tộc, trong đó cán bộ phải “vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân”.

Thứ tư, khơi dậy ý thức tự lực, tự cường của cộng đồng các dân tộc, gắn kết quyền lợi cá nhân, cộng đồng với lợi ích quốc gia, dân tộc. Do đó, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là di sản tư tưởng mang giá trị lịch sử sâu sắc, mà còn là kim chỉ nam định hướng cho mọi hoạt động cách mạng, chính trị, xã hội của đất nước.

Hoàng Oanh

 
Tin liên quan