TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN, TOÀN QUÂN RA SỨC THI ĐUA THỰC HIỆN THẮNG LỢI NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG!
Thông tin - Tổng hợp
Đăng ngày: 09/07/2026 - Lượt xem: 51
Phát huy phương pháp ngoại giao “tâm công” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế hiện nay

Phương thức thu phục lòng người, tạo dựng đồng thuận, mở rộng sự ủng hộ quốc tế - thường được biết đến là phương pháp ngoại giao “tâm công” đã phát huy hiệu quả trong truyền thống đối ngoại của dân tộc ta, được Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng và phát triển sáng tạo trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Việc vận dụng và phát triển sáng tạo phương pháp ngoại giao “tâm công” Hồ Chí Minh đóng vai trò quan trọng trong xây dựng lòng tin chiến lược, thúc đẩy ngoại giao đa phương, phát huy sức mạnh mềm, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam.

Lãnh đạo Đảng, Nhà nước Ba Lan cùng đông đảo người dân Thủ đô Warsaw nồng nhiệt chào đón Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm chính thức Ba Lan, ngày 21-7-1957_Ảnh: TTXVN

Phương pháp ngoại giao “tâm công”

Trong tiến trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, bên cạnh việc phát huy sức mạnh quân sự và tiềm lực kinh tế, việc vận dụng biện pháp mềm dẻo, mang tính chính nghĩa và đạo lý luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần khơi dậy tinh thần yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, làm suy giảm tinh thần chiến đấu của các thế lực xâm lược, khơi dậy sự đồng cảm của những lực lượng tiến bộ trên thế giới. Tư tưởng đó được Nguyễn Trãi khái quát bằng luận điểm sâu sắc trong tác phẩm Bình Ngô đại cáo: “Giặc cùng đường kiệt sức, chờ chết bó tay. Ta mưu đánh vào lòng, không chiến mà cũng thắng”(1). Luận điểm này không chỉ phản ánh tầm nhìn, triết lý của một nhà tư tưởng lớn, mà còn hàm chứa một triết lý đối ngoại có giá trị lâu dài, đề cao việc thuyết phục bằng chính nghĩa và đạo lý như một phương pháp hiệu quả và bền vững để kết thúc xung đột.

Xuyên suốt chiều dài lịch sử dân tộc, từ buổi đầu dựng nước, qua các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, đến giai đoạn đấu tranh phá thế bao vây, cấm vận và từng bước hội nhập quốc tế, phương pháp “tâm công” luôn được vận dụng linh hoạt và sáng tạo trong thực tiễn đấu tranh chính trị - ngoại giao. Do thường xuyên phải đối mặt với các thế lực vượt trội về tiềm lực vật chất và quân sự, Việt Nam xác định để giành thắng lợi trên mặt trận ngoại giao không chỉ dựa vào lực lượng vật chất thuần túy, mà đòi hỏi phát huy sức mạnh tinh thần, chính nghĩa và đạo lý, nhằm làm lay chuyển ý chí của đối phương, đồng thời tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới.

Xét về nội hàm khái niệm, ngoại giao “tâm công” có thể được hiểu là phương pháp thu phục lòng người bằng chính nghĩa, nhân tình và lẽ phải; thuyết phục đối phương thông qua giá trị đạo lý phổ quát, gắn với tri thức và sự hiểu biết sâu sắc về con người và xã hội. Ngoại giao “tâm công” không đồng nghĩa với sự mềm yếu hay nhân nhượng vô nguyên tắc, có tác động trực tiếp vào nhận thức, tình cảm và niềm tin, từ đó từng bước làm thay đổi thái độ và hành vi của đối tượng bị tác động. Trong tư tưởng quân sự và ngoại giao truyền thống ở phương Đông, “tâm công” bắt nguồn từ quan niệm “lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo”, qua đó khẳng định tính chính nghĩa và nhân đạo như một nguồn sức mạnh đặc biệt có khả năng làm suy yếu những lực lượng tưởng chừng áp đảo. Trong thực tiễn chiến tranh và xung đột, ngoại giao “tâm công” thường được triển khai gắn liền với công tác địch vận, giúp đối phương nhận thức rõ tính phi nghĩa của cuộc chiến, làm suy giảm ý chí chiến đấu, gây hoang mang, dao động và phân hóa trong nội bộ đối phương. Đặc biệt, khi được kết hợp chặt chẽ với thắng lợi trên chiến trường và ưu thế vượt trội về chính trị, ngoại giao “tâm công” có thể tạo nên sức mạnh tổng hợp, buộc đối phương phải chấp nhận đàm phán, nghị hòa và rút quân.

Chính truyền thống ngoại giao đặc sắc này đã tạo nền tảng tư tưởng và thực tiễn quan trọng để các thế hệ lãnh đạo Việt Nam, đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa, phát triển và nâng lên tầm cao mới trong giai đoạn lịch sử hiện đại.

Phương pháp ngoại giao “tâm công” trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, ngoại giao “tâm công” trước hết là nghệ thuật tác động vào lòng người, nhằm thức tỉnh lương tri, khơi dậy đồng cảm và tạo dựng niềm tin, qua đó mở rộng mặt trận ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của Việt Nam và cô lập lực lượng hiếu chiến. Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao “tâm công” được hình thành trên nền tảng truyền thống ngoại giao của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, mang bản chất nhân văn - chính nghĩa - thuyết phục, được vận dụng linh hoạt đối với từng nhóm đối tượng khác nhau, song luôn nhất quán về mục tiêu bảo vệ độc lập dân tộc và hòa bình.

Cơ sở nhân văn của ngoại giao “tâm công”: Tạo lập đồng thuận quốc tế trên nền tảng giá trị phổ quát

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, ngoại giao “tâm công” được xây dựng trước hết trên nền tảng chủ nghĩa nhân văn sâu sắc, coi con người và các giá trị đạo lý phổ quát là điểm xuất phát của mọi hoạt động đối ngoại. Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng rằng, mặc dù các dân tộc có sự khác biệt về thể chế chính trị, trình độ phát triển và truyền thống văn hóa, song vẫn có thể gặp nhau ở chuẩn mực đạo lý chung, gắn với khát vọng hòa bình, công lý và hạnh phúc của con người. Người nhấn mạnh: “Tuy phong tục mỗi dân mỗi khác, nhưng có một điều thì dân nào cũng giống nhau. Ấy là dân nào cũng ưa sự lành và ghét sự dữ”(2). Quan niệm này phản ánh niềm tin vững chắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào khả năng cảm hóa và thuyết phục thông qua đạo lý, hướng tới việc đánh thức lương tri và khơi dậy sự đồng cảm của cộng đồng quốc tế đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa.

Từ nền tảng nhân văn đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh làm nổi bật điểm tương đồng giữa cách mạng Việt Nam và các phong trào tiến bộ của nhân loại. Trong Thư gửi đồng bào toàn quốc nhân dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám, viết năm 1947, Người nhấn mạnh: “Noi gương Cách mạng 1776 của Mỹ, Cách mạng Tháng Tám tranh tự chủ chống ngoại xâm. Cũng như Cách mạng 1789 của Pháp, Cách mạng Tháng Tám thực hành lý tưởng: Bình đẳng, Tự do, Bác ái. Theo gót Cách mạng 1911 của Tàu, Cách mạng Tháng Tám thực hiện chủ nghĩa: Dân tộc, dân quyền, dân sinh”(3). Sự dẫn chiếu của Người đến các cuộc cách mạng lớn trên thế giới vừa chỉ rõ sự tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, tôn trọng ý nghĩa lớn lao của các cuộc cách mạng lớn trong lịch sử nhân loại, vừa cho thấy tầm vóc, vị thế của Cách mạng Tháng Tám, mở ra con đường để cách mạng Việt Nam đến với cộng đồng quốc tế, mở rộng không gian đồng thuận quốc tế cũng như chỉ rõ cách mạng Việt Nam là một bộ phận hữu cơ của tiến trình giải phóng con người trên phạm vi toàn cầu, góp phần làm cho cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam nhận được sự đồng tình và ủng hộ ngày càng rộng rãi từ dư luận tiến bộ.

Tinh thần nhân văn trong phương pháp ngoại giao “tâm công” Hồ Chí Minh còn được thể hiện rõ trong cách tiếp cận rất mở của Người, như trả lời phóng vấn các hãng thông tấn lớn, các tờ báo lớn của các nước trên thế giới; tiếp và gặp gỡ các phái đoàn, đoàn đại biểu trên thế giới; thăm các quốc gia trên thế giới... Ngay từ những năm đầu sau Cách mạng Tháng Tám, trên cơ sở đề cao hòa bình, công lý và hợp tác, Người nhiều lần bày tỏ mong muốn xây dựng quan hệ hữu nghị, đồng thời thể hiện sự tôn trọng đối với nhân dân Hoa Kỳ. Trong Thư gửi Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, viết năm 1946, Người đề nghị Hoa Kỳ hành động với tư cách là lực lượng bảo vệ công lý thế giới, đồng thời khẳng định mục tiêu của Việt Nam là “độc lập hoàn toàn và hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ”(4). Cách tiếp cận này cho thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn việc tìm kiếm mẫu số chung trên nền tảng giá trị phổ quát, vượt qua khác biệt về ý thức hệ và lợi ích trước mắt, nhằm tạo dựng sự đồng cảm và thiện chí, từ đó tranh thủ sự ủng hộ của dư luận, các lực lượng tiến bộ trên thế giới và cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam.

Ngoại giao “tâm công” trong quan hệ với bạn bè, đồng chí và các lực lượng ủng hộ cách mạng

Trong quan hệ với bạn bè, đồng chí và các lực lượng ủng hộ cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi tình cảm chân thành và tinh thần quốc tế trong sáng là nền tảng cốt lõi của ngoại giao. Người nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu xây dựng mối quan hệ “vừa là đồng chí, vừa là anh em”, thể hiện quan niệm coi trọng yếu tố con người, đạo lý và nghĩa tình trong chính trị quốc tế. Ở đây, “tâm công” không phải là sự mềm dẻo mang tính sách lược, mà là một cách tiếp cận có chiều sâu đạo đức, nhằm tạo dựng lòng tin bền vững và sự gắn bó lâu dài.

Tinh thần ngoại giao “tâm công” được thể hiện rõ trong cách Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi nhận và lý giải sự ủng hộ của Ấn Độ đối với cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Người khẳng định: “luôn luôn biết ơn sự đồng tình và ủng hộ của Chính phủ và nhân dân Ấn Độ anh em. Nhân dân Việt Nam luôn luôn nhớ rằng Thánh Găngđi ủng hộ cuộc kháng chiến của Việt Nam ngay khi mới bắt đầu và Thủ tướng Nêru đã nhiều lần lên tiếng phản đối cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam”(5). Việc nhấn mạnh vai trò và tiếng nói của các lãnh tụ tiêu biểu của Ấn Độ cho thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương đặt cuộc đấu tranh của Việt Nam trong mối liên hệ chặt chẽ với những giá trị tư tưởng tiến bộ mang tính phổ quát, đã và đang được cộng đồng quốc tế thừa nhận. Qua đó khơi dậy, kết nối và lan tỏa các giá trị nhân văn chung, huy động sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt mối quan hệ với Liên Xô trong khuôn khổ đoàn kết quốc tế của phong trào xã hội chủ nghĩa và sự giúp đỡ của Liên Xô là sự đồng hành có tính nguyên tắc của một lực lượng cùng chung mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Cách mạng Tháng Mười Nga được xem là mốc lịch sử mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc bị áp bức, tạo cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hình thành mối quan hệ đoàn kết bền chặt giữa Việt Nam và Liên Xô. Việc Người nhấn mạnh chính sách bảo vệ hòa bình của Liên Xô phản ánh cách tiếp cận ngoại giao “tâm công” trong quan hệ với bạn bè, đồng chí, khi niềm tin chính trị và sự gắn bó về đạo lý được xây dựng trên cơ sở cùng chia sẻ mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc và tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của quan hệ quốc tế. Trên nền tảng đó, quan hệ Việt Nam - Liên Xô được củng cố như một mối quan hệ đồng chí thủy chung, tin cậy và lâu dài, trở thành trụ cột quan trọng của mặt trận đoàn kết quốc tế ủng hộ cách mạng Việt Nam.

Phương pháp ngoại giao “tâm công” được Chủ tịch Hồ Chí Minh triển khai nhất quán khi đặt Việt Nam trong tổng thể cuộc đấu tranh chung vì hòa bình. Trên nền tảng đó, Người thể hiện rõ tư duy mở rộng và linh hoạt trong quan hệ quốc tế, sẵn sàng “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”(6), coi “mọi người yêu nước và tiến bộ là bạn của ta”(7). Quan điểm này phản ánh cách tiếp cận ngoại giao lấy sự tôn trọng, bình đẳng và tin cậy làm nguyên tắc chỉ đạo, đồng thời đề cao việc tạo dựng đồng thuận và thiện chí trong quan hệ giữa các quốc gia và dân tộc. Tư duy ấy được cụ thể hóa trong Thông cáo về chính sách ngoại giao của Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, với định hướng rõ ràng về quan hệ với các nước Đồng minh, với Pháp, với các dân tộc, lực lượng tiến bộ trên toàn thế giới, các nước láng giềng...; nhấn mạnh tinh thần hợp tác bình đẳng, tương trợ và cùng phát triển. Toàn bộ quan điểm và định hướng đó cho thấy phương pháp ngoại giao “tâm công” được Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng một cách có hệ thống, nhằm xây dựng nền tảng chính trị - đạo lý cho sự đồng thuận quốc tế và củng cố hậu thuẫn bền vững đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Ngoại giao “tâm công” trong đấu tranh với các thế lực ngoại xâm

Không chỉ vận dụng ngoại giao “tâm công” trong cách tiếp cận đối với bạn bè và đồng chí, đối với các thế lực ngoại xâm, Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng ngoại giao “tâm công” như một phương thức đấu tranh đặc biệt, kết hợp chặt chẽ giữa lý lẽ, nhân đạo và chính nghĩa, nhằm làm rõ bản chất phi nghĩa của chiến tranh và mở rộng sự đồng tình của dư luận tiến bộ. Đối với các thế lực ngoại xâm, phương pháp ngoại giao “tâm công” của Chủ tịch Hồ Chí Minh không nhằm thỏa hiệp vô nguyên tắc, mà là kết hợp chặt chẽ giữa sự kiên định về mục tiêu và mềm dẻo trong phương thức, nhằm làm sáng tỏ tính chính nghĩa và thức tỉnh lương tri. Người thường bắt đầu bằng những lập luận đạo lý giản dị, nhưng có sức thuyết phục mạnh mẽ. Khi đối thoại với người Pháp, Người đặt vấn đề một cách trực diện: “Các bạn yêu nước Pháp của các bạn và muốn nó độc lập... Nhưng chúng tôi cũng phải được phép yêu nước của chúng tôi và muốn nó độc lập chứ!”(8). Lập luận này buộc đối phương đối diện với sự mâu thuẫn giữa lý tưởng tự do mà họ đề cao và hành động xâm lược mà họ đang tiến hành. Trong Thư gửi những người Pháp ở Đông Dương, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục kêu gọi: “Hỡi những người Pháp ở Đông Dương! Các bạn không nghĩ rằng máu nhân loại đã chảy nhiều, rằng hòa bình - một nền hòa bình chân chính xây trên công bình và lý tưởng dân chủ - phải thay cho chiến tranh”(9). Đây là một hình thức ngoại giao “tâm công” điển hình, khi Người không công kích cá nhân, mà đưa đối phương trở lại với những giá trị nền tảng mang tính phổ quát của nhân loại, phản đối tính phi nghĩa của chiến tranh.

Với Hoa Kỳ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng ngoại giao “tâm công” theo hướng gắn chặt phê phán chiến tranh với những hệ lụy trực tiếp đối với chính xã hội Hoa Kỳ. Người chỉ rõ bất công và tổn thất mà cuộc chiến gây ra cho đất nước và nhân dân Hoa Kỳ: “Chính phủ Mỹ đã buộc hàng chục vạn thanh niên Mỹ phải chết và bị thương vô ích trên chiến trường Việt Nam. Chính phủ Mỹ xài phí về chiến tranh ở Việt Nam mỗi năm hàng chục tỉ đôla tiền mồ hôi nước mắt của nhân dân Mỹ”(10). Cách tiếp cận này cho thấy ngoại giao “tâm công” không dừng ở việc kêu gọi các giá trị đạo lý chung mang tính phổ quát của nhân loại, mà còn tác động trực diện tới lợi ích vật chất và cảm xúc xã hội của công chúng, qua đó làm gia tăng sự đồng cảm, ủng hộ của nhân dân Hoa Kỳ với sự chính nghĩa của cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập của Việt Nam.

Tính nhân văn của ngoại giao “tâm công” còn thể hiện rõ trong quan điểm đối xử với tù binh và công tác địch vận. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: “Đối với những người Pháp bị bắt trong lúc chiến tranh, ta phải canh phòng cẩn thận, nhưng phải đối đãi với họ cho khoan hồng”(11), đồng thời khẳng định: “Địch vận là tìm cách làm sao phá được địch mà không phải đánh”(12). Chỉ dẫn này cho thấy tinh thần nhân đạo luôn là tư tưởng xuyên suốt trong cách tiếp cận của Người, góp phần làm tan rã ý chí xâm lược và nâng cao tính nhân văn, đạo lý của cách mạng Việt Nam.

Như vậy, phương pháp ngoại giao “tâm công” của Chủ tịch Hồ Chí Minh được triển khai một cách nhất quán và linh hoạt trên ba bình diện: với bạn bè, đồng chí là xây dựng lòng tin và nghĩa tình; với cộng đồng quốc tế là tìm điểm tương đồng nhân văn để tạo đồng thuận; với các thế lực ngoại xâm là thức tỉnh lương tri bằng lý lẽ, nhân đạo và chính nghĩa. Sự gắn kết tự nhiên giữa câu trích - lập luận - phân tích đã làm cho ngoại giao “tâm công” trở thành một phương pháp ngoại giao đặc sắc, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam và để lại giá trị bền vững cho đường lối đối ngoại của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.

Vận dụng tư tưởng ngoại giao “tâm công” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bối cảnh quốc tế hiện nay

Bối cảnh quốc tế hiện nay có những biến đổi khó lường, sự gia tăng cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xu hướng phân mảnh trong quan hệ quốc tế, sự suy giảm niềm tin chiến lược và những thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng. Trong điều kiện đó, việc vận dụng tư tưởng ngoại giao “tâm công” của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần định hướng phương thức triển khai đường lối đối ngoại của Việt Nam theo hướng chủ động, linh hoạt, nhân văn và hiệu quả, đồng thời bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc trong môi trường quốc tế nhiều biến động.

Thứ nhất, vận dụng ngoại giao “tâm công” trong xây dựng và củng cố lòng tin chiến lược.

Một trong những yêu cầu quan trọng của đường lối đối ngoại của Việt Nam hiện nay là xây dựng và củng cố lòng tin chiến lược với các đối tác trong bối cảnh cạnh tranh giữa các nước lớn ngày càng gay gắt. Tư tưởng ngoại giao “tâm công” của Chủ tịch Hồ Chí Minh với trọng tâm là thuyết phục bằng chính nghĩa, đạo lý và sự nhất quán về nguyên tắc đã cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để Việt Nam triển khai đường lối đối ngoại theo hướng tạo dựng niềm tin bền vững. Theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, Việt Nam kiên trì thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước, thể hiện rõ cách tiếp cận ngoại giao “tâm công” trong điều kiện mới; chủ động truyền tải thông điệp về một quốc gia có trách nhiệm, đáng tin cậy và sẵn sàng đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định khu vực và thế giới. Trong thực tiễn, việc xây dựng lòng tin chiến lược không chỉ dựa trên cam kết chính trị - pháp lý, mà còn gắn liền với sự nhất quán trong hành động, sự minh bạch trong chính sách và khả năng chia sẻ lợi ích. Tinh thần “tâm công” đòi hỏi Việt Nam chú trọng tạo dựng sự đồng cảm và thấu hiểu lẫn nhau với các đối tác, đặc biệt là trong xử lý vấn đề nhạy cảm, phức tạp liên quan đến lợi ích đan xen. Qua đó, Việt Nam từng bước củng cố hình ảnh một đối tác chân thành, có trách nhiệm và đáng tin cậy trong cộng đồng quốc tế.

Thứ hai, vận dụng ngoại giao “tâm công” trong thúc đẩy ngoại giao đa phương và hội nhập quốc tế.

Trong bối cảnh các cơ chế quản trị toàn cầu đứng trước nhiều thách thức, ngoại giao đa phương tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì hòa bình, ổn định và thúc đẩy hợp tác quốc tế. Việc vận dụng phương pháp ngoại giao “tâm công” trong ngoại giao đa phương thể hiện trước hết ở khả năng gắn kết lợi ích quốc gia với lợi ích chung của cộng đồng quốc tế, qua đó tạo dựng sự đồng thuận và ủng hộ rộng rãi. Trong diễn đàn đa phương, Việt Nam kiên trì thúc đẩy các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, tăng cường hợp tác vì phát triển bền vững. Việc Việt Nam đảm nhiệm thành công các trọng trách quốc tế, như Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch ASEAN, hay tham gia tích cực vào cơ chế đa phương khu vực và toàn cầu đã góp phần củng cố hình ảnh một quốc gia có trách nhiệm, biết lắng nghe và tạo đồng thuận. Đây là kết quả trực tiếp của việc vận dụng phương pháp ngoại giao “tâm công” trong ngoại giao đa phương, thông qua đối thoại, thuyết phục và xây dựng lòng tin.

Đại sứ Phạm Thị Thanh Bình và cán bộ, nhân viên Đại sứ quán Việt Nam tại Phần Lan đón Tổng Bí thư Tô Lâm, ngày 20-10-2025_Ảnh: TTXVN  

Thứ ba, vận dụng ngoại giao “tâm công” trong xử lý quan hệ với các nước lớn và đối tác quan trọng.

Quan hệ với các nước lớn luôn là một trong những vấn đề chiến lược của đối ngoại Việt Nam. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng chỉ rõ tinh thần chủ động, tích cực đóng góp vào hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững trên tinh thần là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; tham gia chủ động, có trách nhiệm vào việc giải quyết vấn đề chung của khu vực và quốc tế; bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi; thúc đẩy quan hệ hữu nghị với các nước láng giềng, các nước lớn, các nước khu vực Đông Nam Á, các nước bạn bè truyền thống và các đối tác quan trọng, tiềm năng khác đi vào chiều sâu, thực chất, ổn định, tăng độ tin cậy và bền vững lâu dài; đồng thời, mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp, hạnh phúc của nhân dân.

Việc vận dụng phương pháp ngoại giao “tâm công” trong quan hệ với các nước lớn thể hiện ở sự kết hợp chặt chẽ giữa kiên định nguyên tắc và mềm dẻo trong sách lược, giữa bảo vệ lợi ích cốt lõi và mở rộng không gian hợp tác. Trong quan hệ với Hoa Kỳ, Việt Nam chủ động thúc đẩy đối thoại, mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực cùng có lợi, đồng thời xử lý các khác biệt bằng biện pháp hòa bình và xây dựng. Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc được định hướng theo phương châm ổn định lâu dài, kiểm soát bất đồng, tăng cường hợp tác thực chất; quan hệ với Liên bang Nga tiếp tục được củng cố trên nền tảng tin cậy chính trị và hợp tác truyền thống... Thông qua đối thoại và thuyết phục bằng lý lẽ chính đáng, Việt Nam từng bước xây dựng được mạng lưới quan hệ đối tác ngày càng sâu rộng, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển.

Thứ tư, vận dụng ngoại giao “tâm công” trong phát huy sức mạnh mềm và nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam.

Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa và chuyển đổi số, sức mạnh mềm ngày càng trở thành một bộ phận quan trọng của sức mạnh tổng hợp quốc gia. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định yêu cầu nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam như một mục tiêu xuyên suốt của đường lối đối ngoại. Việc lan tỏa giá trị văn hóa, truyền thống nhân văn, tinh thần hòa hiếu và khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam chính là sự vận dụng sinh động phương pháp ngoại giao “tâm công” trong hoạt động đối ngoại hiện nay. Thông qua ngoại giao văn hóa, ngoại giao nhân dân và truyền thông đối ngoại, Việt Nam từng bước xây dựng hình ảnh một quốc gia hòa bình, thân thiện, năng động và có trách nhiệm. Hoạt động này góp phần tạo dựng sự đồng cảm và thiện chí của cộng đồng quốc tế, qua đó hỗ trợ hiệu quả cho ngoại giao nhà nước và nâng cao vị thế quốc tế của đất nước.

Vận dụng tư tưởng ngoại giao “tâm công” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bối cảnh quốc tế hiện nay đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa kế thừa và sáng tạo. Một mặt, cần kiên định giá trị cốt lõi về nhân văn, chính nghĩa, độc lập và hòa bình; mặt khác, phải linh hoạt trong phương thức triển khai, phù hợp với điều kiện và yêu cầu mới của môi trường quốc tế. Đồng thời, việc nâng cao năng lực dự báo, tăng cường phối hợp giữa các kênh đối ngoại và phát huy vai trò của ngoại giao nhân dân, ngoại giao văn hóa là các yếu tố quan trọng để ngoại giao “tâm công” tiếp tục phát huy hiệu quả trong giai đoạn hiện nay, nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, đồng thời đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định và phát triển bền vững của khu vực và thế giới./.

-----------------------

(1) Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam: Nguyễn Trãi Toàn tập, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, tr. 80
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 4, tr. 397
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 218
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 204
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 264
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 256
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 13, tr. 453
(8), (9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 75, 76 - 77
(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 414
(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 29
(12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 595

Nguồn:tapchicongsan.org.vn

Tin liên quan