1. Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin về vai trò và sức mạnh của quần chúng nhân dân, kế thừa truyền thống “trọng dân”, tư tưởng “nước lấy dân làm gốc” trong lịch sử dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tuyệt đối tin tưởng vào vai trò quyết định của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng nói chung và công tác bảo vệ an ninh, trật tự nói riêng. Người khẳng định: “Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn”(1). Người nhấn mạnh lực lượng Công an nhân dân Việt Nam “phải dựa vào dân, không được xa rời dân”(2); cảnh giác thôi chưa đủ mà phải “làm cho nhân dân cùng cảnh giác và giúp đỡ mình”(3), “đoàn kết với nhân dân, dựa vào nhân dân, giáo dục nhân dân cảnh giác thì địch không làm gì được”(4). Do đó, trong bảo vệ an ninh, trật tự, từ hoạt động công khai đến bí mật, từ phòng ngừa đến phát hiện, đấu tranh, xử lý tội phạm, đều phải dựa vào nhân dân, phát huy sức mạnh to lớn của toàn dân. Mặc dù bảo vệ an ninh, trật tự là trách nhiệm của nhiều lực lượng và đòi hỏi không ít biện pháp, nguồn lực, nhưng lực lượng giữ vai trò quyết định thành công hay thất bại chính là lực lượng nhân dân.
Trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo, tổ chức các hình thức tập hợp, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân trong bảo vệ an ninh, trật tự, phát triển thành các phong trào cách mạng, thi đua yêu nước, tạo nên sức mạnh to lớn để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vượt qua mọi khó khăn, thử thách, giành thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng Tổ quốc. Tiêu biểu là các phong trào “Ba không”, “Ngũ liên gia bảo” trong kháng chiến chống Pháp; “Bảo mật phòng gian”, “Bảo vệ trị an”, “Phòng gian, phòng hỏa, phòng tai nạn” trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ cứu nước; sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là phong trào “Quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc” và hiện nay là phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”. Các phong trào đó tiếp tục phát huy hiệu quả, khẳng định vai trò nòng cốt của khối đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “thế trận lòng dân được chú trọng; thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, nhất là trên các địa bàn chiến lược, trọng điểm, được củng cố vững chắc”(5), cho thấy sự kế thừa và phát triển nhất quán quan điểm lấy dân làm gốc, phát huy sức mạnh toàn dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự thời kỳ mới.
2. Hiện nay, đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, đây là kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có cơ hội phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của thế giới, hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu. Đích đến của kỷ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu. Ưu tiên hàng đầu trong kỷ nguyên mới là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao... Đại hội XIV của Đảng là dấu mốc mở đầu cho hành trình đó, nơi toàn dân tộc đoàn kết một lòng, phát huy hào khí, tinh thần tự lực, tự cường, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, đưa đất nước phát triển toàn diện, bứt phá và cất cánh vững chắc trong kỷ nguyên mới(6).
Theo Tổng Bí thư Tô Lâm, cơ sở định vị mục tiêu đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc là những thành tựu vĩ đại đạt được sau 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng đã giúp Việt Nam tích lũy đủ thế và lực cho sự phát triển bứt phá trong giai đoạn tiếp theo. Thế giới đang trong thời kỳ thay đổi có tính thời đại, từ nay đến năm 2030 là giai đoạn quan trọng nhất để xác lập trật tự thế giới mới. Đây cũng là thời kỳ cơ hội chiến lược quan trọng, giai đoạn nước rút của cách mạng Việt Nam để đạt mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, tạo tiền đề vững chắc đạt mục tiêu 100 năm thành lập nước. Sự biến chuyển có tính thời đại đem đến thời cơ, thuận lợi mới, đồng thời cũng có nhiều thách thức, trong đó mặt thách thức nổi trội hơn và thời cơ mới còn có thể xuất hiện trong khoảnh khắc giữa những thay đổi đột biến trong cục diện thế giới. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là trí tuệ nhân tạo và công nghệ số, đem đến cơ hội mà những quốc gia đang phát triển, chậm phát triển có thể nắm bắt để đi trước đón đầu, phát triển vượt bậc(7).
Do đó, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội của nước ta đang đứng trước những thời cơ và thách thức chủ yếu sau đây:
Một là, sự phát triển của khoa học - công nghệ, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tác động sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội, chi phối cả tư duy, lối sống của mỗi cá nhân. Quốc gia, dân tộc nào chiếm lĩnh và làm chủ được công nghệ cao, công nghệ lõi, đặc biệt là nắm giữ phân khúc nghiên cứu và phát triển (R&D), sẽ có cơ hội phát triển bứt phá, tăng trưởng vượt bậc. Ngược lại, sự chậm trễ trong tiếp cận và ứng dụng công nghệ sẽ dẫn đến tụt hậu, bị bỏ lại phía sau trong tiến trình phát triển. Phía sau cuộc cạnh tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc là cuộc cạnh tranh chiến lược quyết liệt nhằm giành ưu thế công nghệ giữa các nước lớn - yếu tố then chốt định hình trật tự quyền lực toàn cầu trong thế kỷ XXI.
Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ cũng làm xuất hiện nhiều loại hình tội phạm mới, nhất là trên không gian mạng, với tính chất ngày càng tinh vi, xuyên quốc gia. Đồng thời, khoa học - công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp trong nền kinh tế hiện đại, góp phần tạo ra nhiều thành tựu nhưng cũng kéo theo hàng loạt vấn đề toàn cầu, an ninh phi truyền thống, như ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, buôn bán phụ nữ và trẻ em, tình trạng nghèo đói với biểu hiện mới, dịch bệnh,... Những thách thức này mang tính chất bao trùm, tác động tiêu cực không chỉ đối với từng quốc gia, mà còn ảnh hưởng sâu rộng ở cấp độ khu vực và toàn cầu, trở thành vấn đề chung của toàn nhân loại. Cùng với đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị và phần tử cực đoan chống đối gia tăng lợi dụng thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại, đặc biệt là không gian mạng, để chống phá Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Những thách thức từ môi trường mạng đe dọa trực tiếp đến nền tảng tư tưởng của Đảng, văn hóa - xã hội, đạo đức, lối sống; đồng thời, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ với thủ đoạn ngày càng tinh vi, mức độ ngày càng gay gắt, quyết liệt hơn.
Hai là, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, tác động sâu sắc và lâu dài đến môi trường an ninh toàn cầu, khu vực, trong đó Việt Nam trở thành tâm điểm dễ bị lôi kéo, chi phối, ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh quốc gia. Điểm chung của cạnh tranh chiến lược trong kỷ nguyên mới là các quốc gia đều đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên hàng đầu, dẫn đến cạnh tranh ngày càng quyết liệt về tính chất, sâu rộng về quy mô, đa dạng về hình thức và phức tạp về đối tượng, thành phần. Cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương là một trong những không gian diễn ra gay gắt nhất, bao trùm các lĩnh vực địa - chiến lược, kinh tế - thương mại, an ninh, công nghệ cao và mô hình phát triển. Trong bối cảnh đó, tính bất định, khó dự báo trở thành đặc điểm nổi bật của cục diện chính trị - an ninh hiện nay và trong nhiều thập niên tới. Đồng thời, các tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ trực tiếp đe dọa chủ quyền và an ninh quốc gia của Việt Nam.
Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tiếp tục lợi dụng những hạn chế về kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh để đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, kích động bạo loạn lật đổ. Họ gia tăng các hình thức “tấn công mềm”, “tác động chuyển hóa”, “thẩm thấu” các “giá trị” phi xã hội chủ nghĩa nhằm thúc đẩy suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và quần chúng nhân dân. Đồng thời, họ kích động chia rẽ, đòi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, hạ thấp và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong bối cảnh đó, việc xử lý các mầm mống bất ổn xã hội trở nên khó khăn, phức tạp hơn, đòi hỏi phải có sự chủ động, kiên quyết, linh hoạt và đồng bộ trong cả hệ thống chính trị.
Ba là, trong kỷ nguyên mới, Việt Nam hội nhập quốc tế toàn diện, sâu sắc hơn, với vị thế và vai trò ngày càng quan trọng trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa toàn cầu. Sau gần 40 năm đổi mới, quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế của Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu to lớn, ngày càng đi vào chiều sâu, tạo lập được khung khổ ổn định, bền vững với các đối tác. Đến nay, Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với 191/193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với 13 quốc gia, đối tác chiến lược với 11 quốc gia, đối tác toàn diện với 14 quốc gia, bao gồm tất cả các nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và nhiều đối tác quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Việt Nam là thành viên tích cực của hơn 70 tổ chức quốc tế và khu vực. Sự mở rộng và nâng cấp mạnh mẽ về quan hệ đối ngoại đã nâng cao uy tín, vị thế quốc tế của Việt Nam, tạo thuận lợi để củng cố thế trận an ninh, nhất là trong hợp tác với các cường quốc và khu vực. Vị thế quốc tế mới giúp Việt Nam thu hút sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời mang lại cơ hội hợp tác sâu rộng về kinh tế, quốc phòng - an ninh - những điều kiện thiết yếu để bảo vệ an ninh, trật tự trong kỷ nguyên mới.
Do đó, thế trận an ninh quốc gia tiếp tục được củng cố, đặc biệt thông qua việc triển khai hiệu quả các quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, đối tác toàn diện với các cường quốc và các nước trong khu vực. Vị thế quốc tế ngày càng nâng cao của Việt Nam trong kỷ nguyên mới mở ra khả năng thu hút mạnh mẽ hơn sự đồng thuận, ủng hộ của dư luận và cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mối quan hệ đối ngoại, hợp tác trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh với các quốc gia, tổ chức quốc tế tiếp tục được mở rộng và đi vào chiều sâu. Đây chính là điều kiện thuận lợi, góp phần tạo thế và lực mới cho sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự trong tình hình mới.
Tuy nhiên, việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế có thể bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để gia tăng hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam. Các trung tâm, tổ chức thúc đẩy “chuyển hóa dân chủ”, bạo loạn lật đổ từ Mỹ và phương Tây sẽ có thêm điều kiện, thời cơ để gia tăng can thiệp vào nội bộ; đồng thời, đẩy mạnh hậu thuẫn, tài trợ, móc nối với các phần tử cơ hội chính trị, cực đoan chống đối trong nước nhằm từng bước hình thành lực lượng chính trị đối lập. Đây là những thách thức không nhỏ đối với sự ổn định an ninh, trật tự quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới.
Bốn là, trong kỷ nguyên mới, đời sống xã hội nước ta tiếp tục vận động, phát triển mạnh mẽ, toàn diện về chất. Điều đó đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với năng lực quản lý, quản trị quốc gia trong bối cảnh Việt Nam đang phấn đấu trở thành nước có thu nhập trung bình cao và tiến tới thu nhập cao. Những yêu cầu này là thách thức lớn đối với năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, cũng như mức độ liên kết, bền vững của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Trên thực tế, trong quá trình lãnh đạo và điều hành, Đảng và Nhà nước ta đang đối mặt với một số khó khăn, thách thức cần được khắc phục: Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên tiếp tục là nguy cơ đe dọa sự ổn định chính trị. Thể chế, pháp luật còn bất cập; chính sách xã hội, an sinh, phúc lợi chưa thật sự phát huy vai trò kiến tạo, dẫn dắt, điều tiết hiệu quả quá trình phát triển. Vấn đề dân tộc, tôn giáo còn phức tạp, nhất là sự xuất hiện của các phần tử cực đoan công khai chống đối, kích động, lôi kéo quần chúng tụ tập, biểu tình, gây rối an ninh, trật tự. Bên cạnh đó, các biểu hiện tham nhũng, lãng phí, thiếu trách nhiệm ở một bộ phận cán bộ, công chức tiếp tục gây bức xúc trong xã hội…
Các vấn đề này tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa, từ đó tác động tiêu cực đến an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Đây là những “kẽ hở” dễ bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng, từng bước “chính trị hóa” vấn đề dân sự, kinh tế; kích động chống đối chính quyền, gây rối an ninh, trật tự, thúc đẩy hình thành lực lượng, tổ chức chính trị đối lập. Những diễn biến này làm gia tăng tính phức tạp, khó khăn trong công tác bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đòi hỏi phải có sự nhận diện rõ, xử lý sớm, kiên quyết và đồng bộ trong cả hệ thống chính trị.
Năm là, dân chủ xã hội chủ nghĩa và bảo đảm quyền con người ở nước ta ngày càng được mở rộng, đi vào chiều sâu trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Đảng ta khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước”(8). Thúc đẩy thực hành dân chủ và bảo đảm quyền con người là xu thế tất yếu, không thể đảo ngược trong tình hình mới. Trong thời gian tới, việc hoàn thiện thể chế dân chủ và nâng cao hiệu quả thực thi quyền con người ở Việt Nam sẽ có những bước phát triển mới về chất, gắn với việc triển khai thực hiện các mục tiêu tổng quát và cụ thể mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra, hướng tới mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa(9). Tư tưởng xuyên suốt đó được Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”(10). Đây là cơ sở chính trị, pháp lý vững chắc cho việc tiếp tục mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tốt hơn quyền con người, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế trong kỷ nguyên mới.
Tuy nhiên, trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” nhằm gây sức ép, can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta; kích động tư tưởng chống đối, tập hợp lực lượng, hình thành tổ chức chính trị đối lập, thúc đẩy “cách mạng màu” hòng hướng tới mục tiêu thiết lập chế độ đa nguyên, đa đảng ở Việt Nam. Trong giai đoạn phát triển mới, các hoạt động lợi dụng vấn đề “dân chủ, nhân quyền” sẽ tiếp tục gia tăng với thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn, nhất là thông qua việc xuyên tạc các quyền dân sự, chính trị, như tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do ngôn luận, lập hội, hội họp, biểu tình,… nhằm từng bước tạo dựng tiền đề cho việc liên kết, hình thành lực lượng chính trị đối lập trong nước. Đồng thời, các thế lực thù địch, phản động bên ngoài sẽ gia tăng sức ép đối với Nhà nước ta, sử dụng chiêu bài “dân chủ, nhân quyền” để hậu thuẫn, bảo trợ cho các hoạt động chống đối. Đây là thách thức lớn, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, ngăn chặn, vô hiệu hóa các hoạt động lợi dụng “dân chủ, nhân quyền” một cách nhạy bén, kiên quyết, vừa giữ vững lập trường, vừa khéo léo trong xử lý các vấn đề đối nội và đối ngoại.
3. Từ vai trò quan trọng của quần chúng nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng nói chung và công tác bảo đảm an ninh, trật tự nói riêng; trên cơ sở những phân tích về thời cơ, thuận lợi và thách thức trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, để bảo đảm hiệu quả sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, cần tập trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp chính sau:
Thứ nhất, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự. Trọng tâm của mọi hoạt động trong hệ thống chính trị, của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức là phải phục vụ lợi ích chính đáng của nhân dân. Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội; coi trọng xử lý sớm, dứt điểm các mâu thuẫn xã hội ngay từ cơ sở; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, bảo đảm để nhân dân được thụ hưởng ngày càng đầy đủ thành quả của chủ nghĩa xã hội và công cuộc đổi mới.

Trên 300 học sinh Trường Trung học phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Gia Lai được tư vấn, khám mắt miễn phí_Ảnh: tuoitre.vn
Hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội theo hướng bao trùm, bền vững; bảo đảm cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người dân, không để ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển, đặc biệt quan tâm đến các vấn đề thiết yếu, như nhà ở, việc làm, đời sống của người lao động trong doanh nghiệp, nông nghiệp và cộng đồng dân cư. Đồng thời, huy động rộng rãi đội ngũ trí thức tham gia sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự; ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng, môi trường nghiên cứu, đổi mới sáng tạo; thực hiện chính sách trọng dụng, đãi ngộ thỏa đáng đối với nhân tài, chuyên gia, nhà khoa học trong nước và ngoài nước. Tôn trọng và phát huy hơn nữa hiệu quả vai trò tư vấn của đội ngũ trí thức, chuyên gia trong hoạch định và thực thi các chủ trương, chính sách xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và bảo đảm an ninh, trật tự.
Thứ hai, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm bảo vệ an ninh, trật tự trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân đối với nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc”(11). Mục tiêu là nâng cao cảnh giác cách mạng, hình thành khả năng “tự miễn dịch”, “tự đề kháng” trong toàn xã hội; đồng thời, bồi dưỡng tinh thần sẵn sàng đấu tranh, ngăn chặn, vô hiệu hóa các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Để đạt được hiệu quả thiết thực, trọng tâm cần hướng vào xây dựng xã hội học tập, thúc đẩy ý thức tự giác học tập, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao nhận thức, trách nhiệm về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi cơ quan, đơn vị và từng người dân. Công tác tuyên truyền, giáo dục cần được thực hiện thường xuyên, định kỳ, hiệu quả thông qua hệ thống truyền thông đại chúng, hệ thống giáo dục quốc dân và các thiết chế văn hóa, chính trị ở cơ sở.
Thứ ba, tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và cầm quyền của Đảng; đồng thời, xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, nhằm củng cố vững chắc lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và năng lực quản lý, điều hành của Nhà nước, nhất là tại địa phương và địa bàn cơ sở. Cùng với đó, khắc phục triệt để những yếu kém, hạn chế trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành; kiên quyết xử lý tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; ngăn chặn biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Giải quyết dứt điểm mâu thuẫn, tranh chấp, khiếu kiện trong nhân dân, không để tích tụ, kéo dài, bùng phát thành xung đột xã hội, tạo kẽ hở để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chống phá. Đồng thời, hình thành và phát huy hiệu quả các thiết chế xã hội vững chắc, nhất là thiết chế chính trị, văn hóa, đạo đức; xây dựng cấu trúc hệ thống doanh nghiệp lành mạnh, môi trường kinh tế minh bạch, hiệu quả. Những yếu tố này không chỉ góp phần điều hòa quan hệ xã hội, mà còn là cơ sở quan trọng bảo đảm hiệu lực quản lý, kiểm soát xã hội, kịp thời xử lý vấn đề phức tạp, ngăn ngừa xung đột, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong tình hình mới.
Thứ tư, không ngừng nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia và năng lực tác chiến của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh, trật tự, đặc biệt là lực lượng an ninh, tình báo, nghiên cứu chiến lược và hoạch định chính sách, nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.
Trong bối cảnh hiện nay, sự giao thoa, đan xen giữa các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, văn hóa, xã hội và đối ngoại ngày càng sâu sắc, phức tạp. Nếu không được nhận diện và xử lý kịp thời, các vấn đề kinh tế, văn hóa - xã hội có thể nhanh chóng bị chuyển hóa thành thách thức về chính trị - an ninh . Công tác dự báo, phát hiện và ứng phó với các nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia trở nên khó khăn hơn, đòi hỏi phải có đội ngũ chuyên trách đủ bản lĩnh, trí tuệ, nhạy bén và chuyên nghiệp. Theo đó, cần tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức lực lượng chuyên trách theo hướng tinh gọn, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Đồng thời, tăng cường giáo dục chính trị, nâng cao bản lĩnh, nhận thức lý luận cho cán bộ, chiến sĩ; quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về dân chủ, đổi mới chính trị, hội nhập quốc tế, công tác dân vận và công tác quần chúng. Lực lượng chuyên trách cần đặc biệt nhạy bén trong phát hiện sớm nguy cơ, âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động; kịp thời tham mưu, xử lý, hóa giải các mối đe dọa; nâng cao năng lực dự báo, nhất là dự báo chiến lược; chủ động phối hợp với các cấp, các ngành, các lực lượng trong đấu tranh, ngăn chặn, vô hiệu hóa các hoạt động bạo loạn, lật đổ, bảo đảm giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trong mọi tình huống.
Thứ năm, tăng cường đấu tranh ngoại giao, đồng thời coi trọng và phát huy vai trò của đối ngoại nhân dân, ngoại giao chuyên ngành trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự của Tổ quốc. Thông qua các biện pháp và kênh đối ngoại, cần kiên quyết đấu tranh, yêu cầu chính phủ một số quốc gia chấm dứt mọi hình thức hậu thuẫn, tài trợ cho các tổ chức phản động lưu vong người Việt và các phần tử cực đoan trong nước chống phá Nhà nước Việt Nam.
Bên cạnh đó, chủ động vận động, tranh thủ sự ủng hộ của dư luận tiến bộ quốc tế, trí thức có uy tín trong khu vực và thế giới, cùng các cơ chế đa phương, song phương nhằm tạo thế đối ngoại thuận lợi, góp phần củng cố thế trận an ninh quốc gia. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh, trấn áp các tổ chức, đối tượng thù địch, phản động có hoạt động chống phá nguy hiểm, vi phạm pháp luật nghiêm trọng, nhưng phải xử lý đúng đắn, chặt chẽ, không tạo cớ để các thế lực bên ngoài lợi dụng can thiệp, chống phá ta dưới chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”. Nhận diện rõ và xử lý đúng đắn, linh hoạt, phân biệt giữa yêu cầu chính đáng của quần chúng nhân dân với âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phản động; giữa đối tượng thù địch, phản động với quần chúng nhân dân bị kích động, lôi kéo; từ đó, đề ra giải pháp phù hợp, đúng người, đúng việc, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước./.
------------------------
(1), (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 7, tr. 270, 270
(3), (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 13, tr. 351, 439
(5) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 68
(6), (7) Xem: GS, TS Tô Lâm: “Một số nhận thức cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, Tạp chí Cộng sản, số 1.050 (tháng 11-2024), tr. 3 - 4
(8) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 84 - 85
(9), (11) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 112, 161
(10) Xem: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
Nguồn:tapchicongsan.gov.vn