1. Những bài báo đầu tiên
Tôi khởi sự đến với văn chương, báo chí thấm thoắt đã tròn 30 năm. Tháng 2/1994, tôi nhập ngũ vào Trung đoàn 421, Sư đoàn 306, Quân đoàn 2 (nay là Quân đoàn 12) đóng quân tại đất Lục Nam nắng gió. Ngày đó, bộ đội chúng tôi rất vất vả. Thời tiết khắc nghiệt, nhất là cái nắng cháy da cháy thịt trên vùng sỏi đá ong khô cằn chỉ có những cây sim, mua, bạch đàn mới sống được. Nhưng niềm vui thì luôn bất tận và vô số kỷ niệm người lính suốt đời không thể nào quên và đã dần dần ùa vào những trang văn, bài báo của tôi. Chính nơi đây, tôi đã viết những bài báo đầu tiên, những truyện ngắn đầu tiên…
Bài báo đầu tiên tôi viết về chuyện trực ban, trực nhật của cánh tân binh trong đơn vị. Trực ban, trực nhật khi đó phải xuống bếp ăn hỗ trợ cánh anh nuôi cơm nước cho bộ đội. Phải đi sớm về muộn. Phải rửa những chảo gang khổng lồ mỡ màng, nhọ nồi bám đen kịt. Phải chia hàng trăm suất ăn gồm rau, đậu, thịt, nước mắm, tương, cà vô thiên lủng sao cho đều đặn, tinh tươm. Vào những buổi liên hoan, trực ban, trực nhật ngập đầu trong mỡ màng, nhọ nồi, mắm tôm mắm cáy, mặt mũi nhem nhuốc không còn nhận ra mình. Bài báo tôi viết về buổi trực ban được đăng trên báo Quân đội nhân dân Cuối tuần khiến anh em tiểu đội, trung đội, đại đội, trung đoàn ai nấy như không tin đó là sự thực. Không thể ngờ được một cậu binh nhì từ hình hài đến khẩu khí chẳng có gì đặc biệt lại có được bài báo to đoành đăng báo.
Nhà văn Phùng Văn Khai (bên phải) tại Trường Sa năm 2023
Báo chí cấp toàn quân, toàn quốc tính sau nhưng cấp bách trước mắt đại đội giao cho tôi và hai đồng chí tân binh thực hiện tờ báo tường của đơn vị. Đây chính là những bài báo đầu tiên được thể hiện rất lính tráng. Không hiểu sao lúc đó tôi lại đột nhiên tinh hoa phát tiết, các chuyên mục từ xã luận, tiểu phẩm, tranh cổ động, văn, thơ, nhạc, họa đều cứ thế tuôn ra khiến thủ trưởng và các đồng đội rất yêu thích. Tờ báo tường của đại đội tôi đã đoạt giải nhất cấp trung đoàn gây tiếng vang rất lớn. Tôi bỗng nhiên trở thành một nhà thơ cấp đại đội, tối nào sinh hoạt anh em cũng bắt tôi lên đọc thơ trước toàn thể mọi người. Điện đóm thì hôm có hôm không. Chiếc đèn bão chập chờn khi mờ khi tỏ nhưng thơ văn lính tráng thì sôi động lắm. Tôi bỗng trở thành nổi tiếng được anh em rất ưu ái gánh vác cho nhiều việc trong cuộc sống thường ngày.
2. Những chuyến đi biên giới
Trong cuộc đời làm báo, viết văn của tôi, tôi đã có nhiều chuyến đi dài các vùng biên giới, cột mốc biên cương của Tổ quốc. Khi cùng với Thiếu tướng Hoàng Kiền - Trưởng Ban quản lý dự án 47 về thực hiện tuyến đường tuần tra biên giới đi khảo sát các vùng Tây Bắc, miền Trung, Tây Nguyên,… ròng rã hàng tuần, có khi cả tháng trời. Tôi đã viết loạt bút kí, kí sự in trong các tập Những nẻo đường biên giới; Con đường hoa gạo đỏ được nhiều chiến sĩ, nhất là chiến sĩ công binh đón đọc.
Những chuyến đi biên giới khi tôi còn làm phóng viên Truyền hình Quân đội nhân dân tuy rất vất vả nhưng đã có được nhiều kiến thức, nhiều hình ảnh đẹp về Bộ đội Cụ Hồ. Đầu những năm 2000, khi thực hiên loạt phim phóng sự về bộ đội Binh đoàn 15 lao động sản xuất nơi vùng biên giới Tây Nguyên và hàng chục đồn biên phòng các tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk, Kon Tum, Đắk Nông, tôi tận mắt chứng kiến cảnh bà con nhân dân và chiến sĩ biên phòng vượt qua muôn vàn thử thách để có được cuộc sống ấm no nơi biên giới. Khi thực hiện chủ trương đưa các đội sản xuất của Binh đoàn 15 tới vùng biên giới, việc đầu tiên không chỉ phải lo ăn, lo ở mà phải lập tức xây các nhà trẻ trước khi mùa mưa kéo đến. Tại sao lại như vậy? Đúng là chỉ có đến tận nơi, tai nghe mắt thấy và cảm nhận tiếng khóc oe oe của con trẻ mới thấy được cuộc sống thật vĩ đại. Khi đó, với kinh nghiệm từ tổ tiên truyền lại cũng là nguyên tắc sống còn của một đội sản xuất trụ vững nơi rừng hoang biên giới, cách tuyển người là về từng địa phương các tỉnh tuyển theo tỉ lệ nam nữ 50/50, cơ bản chưa chồng, chưa vợ. Các đội Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Thái Bình,… cứ thế ra đời cắm lán trại khắp các vùng rừng núi. Rất nhanh chóng, đôi nào cặp đấy gắn bó với nhau. Có những ngày, một công ty, nhiều công ty của Binh đoàn đã phải tổ chức hàng chục đám cưới. Số trẻ con cứ thế ra đời theo cấp số nhân. Có bác sĩ của Binh đoàn 15 người Hải Dương có chuyên môn phụ sản đã phải đón tiếng khóc chào đời cho hàng trăm, hàng nghìn bé trong thời gian ngắn. Các bé ra đời trong khi bố mẹ phải đi lao động sản xuất thì sẽ ra sao? Vậy là hàng chục, rồi hàng trăm nhà trẻ ra đời. Tôi đã viết loạt phóng sự và phim tài liệu đoạt giải với tựa đề: Chuyện A Kay đi nhà trẻ gây tiếng vang lớn.
Có khu vực vô vàn đông đúc trẻ con như vậy lại không ít những khu vực biên giới Tây Nguyên tịnh không một bóng phụ nữ, trẻ con nào. Đó là các đồn biên phòng xa dân quanh năm chỉ rừng hoang suối vắng, người chiến sĩ biên phòng chỉ có muông thú cỏ cây. Như ở xã Mo Ray thuộc Kon Tum có tới 7 đồn biên phòng cơ bản đều xa dân, quanh năm chỉ người chiến sĩ với con đường tuần tra biên giới và những cột mốc chủ quyền. Xã Mo Ray khi đó diện tích rộng hơn tỉnh Thái Bình, mỗi khi mùa mưa trở thành cô đảo, trời tạnh ráo cũng phải đi cả ngày, thậm chí nhiều ngày mới tới được các đồn. Tôi và nhà văn Đào Bá Đoàn đã mất gần một tháng mới đi hết Mo Ray. Chúng tôi bỗng giật mình khi các chiến sĩ biên phòng, nhiều người là lãnh đạo chỉ huy đồn tuổi trên 40 mà chưa lấy vợ. Có người lấy vợ chục năm chưa có con vẫn lặng thầm nơi biên giới. Nhiều khi tết đến, anh em còn không muốn về quê ngoài Bắc cũng chỉ vì lý do muộn vợ khiến chúng tôi suy nghĩ lao lung lắm. Tôi đã gọi điện thoại trực tiếp cho Tư lệnh Bộ đội Biên phòng khi đó là Trung tướng Võ Trọng Việt báo cáo mọi tình hình, kể cả những chuyến đi biên giới trước đó của tôi. Chỉ thời gian ngắn sau, các chương trình về hỗ trợ hiếm muộn của bộ đội biên phòng đã ra đời.
3. Những chuyến đi Trường Sa
Tôi đã có nhiều lần đi công tác trên các đảo nổi, đảo chìm thuộc quần đảo Trường Sa. Đi mới thấy Tổ quốc Việt Nam của chúng ta dài rộng thiêng liêng, nhất là ở Trường Sa nghìn trùng sóng vỗ. Tổ quốc mấy nghìn cây số biển cũng là hàng nghìn dặm biển thiêng liêng từ thượng cổ đã thấm máu cha ông và hôm nay hiên ngang lá cờ đỏ sao vàng bay phần phật ở Trường Sa. Trường Sa từ nguồn cội luôn ăn sâu bám rễ trong trái tim người chiến sĩ. Trong chuyến đi Trường Sa tháng 4 năm 2023, tôi đã vô cùng xúc động và luôn xung phong đi chuyến xuồng thứ nhất trong hành trình 10 điểm đảo nổi, đảo chìm, nhà giàn DK I để ghi chép về cuộc đời người chiến sĩ trên đảo và đọc thơ cho bộ đội nghe. Tôi có khả năng sáng tác thơ và đọc thơ tại trận đã từ hàng chục năm nay và bỗng nhiên trở thành một đặc sản trong chuyến đi Trường Sa trên chuyến tàu KN 290. Nhiều bài thơ của tôi đã được anh chị em Đoàn Văn công Quân khu 9 phổ nhạc hát ngay tại chỗ. Tôi hơn 20 tuổi đã được đến Trường Sa viết những bài báo đầu tiên đến 50 tuổi trở lại Trường Sa sao vẫn bồi hồi như ngày 20 tuổi. Ở Trường Sa cái gì cũng thật gần. Làm báo ở Trường Sa chính là làm báo trong trái tim, trong vòng tay lớn của Nhân dân và Tổ quốc.
*
* *
Trong không khí ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, những con người, sự việc, sự kiện luôn ùa về ăm ắp. Người cầm bút hôm nay luôn được là chính mình trong từng câu chuyện kể, góp mặt trong thành tựu lớn lao của đất nước, của Nhân dân. Giới văn bút hôm nay trước cơ đồ và sự nghiệp, vị thế và khát vọng vươn xa của đất nước đang có những thời cơ lớn để cống hiến, để trưởng thành, khẳng định tâm đức và tài hoa của chính mình. Những bài báo, tác phẩm văn chương nghệ thuật sẽ càng được cất cánh bay xa.
Nguồn: https://baohungyen.vn