TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN, TOÀN QUÂN RA SỨC THI ĐUA THỰC HIỆN THẮNG LỢI NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG!
Tin tức hoạt động
Đăng ngày: 26/07/2026 - Lượt xem: 5
Biểu tượng quốc gia và ý thức dân tộc trong thơ đi sứ của Lê Quý Đôn (1760–1762)

.

(Lược trích bài viết của Tiến sĩ BÙI THỊ THIÊN THAI, Viện Văn học)
 
Chuyến đi sứ sang nhà Thanh trong các năm 1760 -1762 là một dấu mốc đặc biệt trong cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Lê Quý Đôn. Đây không chỉ là lần đầu ông đảm nhận trọng trách ngoại giao ở tầm quốc gia khi mới 34 tuổi mà còn là giai đoạn cảm hứng thi ca đạt đến độ sung mãn. Trong suốt hành trình kéo dài gần hai năm, ông sáng tác một khối lượng thơ đồ sộ gồm thơ xướng họa, thơ tặng đáp, thơ đề vịnh danh thắng, di tích và thơ gắn với các hoạt động bang giao. Trong Quế Đường thi tập, ngoài Tiêu Tương bách vịnh còn có gần ba trăm bài thơ được sáng tác trên hành trình đi sứ. Khối lượng sáng tác này cho thấy chuyến đi sứ không chỉ là một sự kiện ngoại giao mà còn là một không gian sáng tạo văn học đặc biệt, nơi nhà thơ liên tục quan sát, đối thoại và định vị văn hóa, lịch sử cũng như vị thế của Đại Việt trong thế giới văn hóa Đông Á.
Trước hết, thơ đi sứ của Lê Quý Đôn chứa đựng những trải nghiệm, kí ức hành trình đằng đẵng từ Thăng Long tới Bắc Kinh, dường như bên cạnh nhật ký Bắc sứ thông lục bằng văn xuôi, ông cũng đang nỗ lực phác thảo một tấm bản đồ bằng thơ ca. Ngay từ khi rời kinh thành, xuôi theo sông Nhị, vượt qua các trấn lộ phía Bắc và tiến dần tới biên giới, ông đã liên tục ghi lại hành trình bằng thơ. Nhiều tác phẩm được sáng tác tại các địa danh thuộc lãnh thổ Đại Việt như Xương Giang, Lạng Sơn, Quỷ Môn Quan, núi Vọng Phu hay Trấn Nam Quan, đồng thời gắn với việc đề vịnh các di tích lịch sử và danh thắng trong nước. Vì vậy, hành trình đi sứ trong thơ Lê Quý Đôn không chỉ bắt đầu từ lúc đặt chân lên đất Thanh mà đã khởi sự từ không gian văn hóa Đại Việt; chính ở chặng đường này, ý thức về lãnh thổ, lịch sử và truyền thống dân tộc đã được hình thành và biểu đạt khá rõ nét. Qua Xương Giang, thơ ông say sưa trong chiến thắng đánh bại quân Minh của nhà Lê, qua đó khẳng định truyền thống giữ nước và nền độc lập của dân tộc:
 
Diệt thù, khắc kiếm ghi cờ nọ;
Khai quốc, thề non chỉ biển xưa... (Độ Xương Giang)
 
Qua thành Cổ Lộng, thơ ông ngậm ngùi an ủi Giản Định đế và thoáng chút châm biếm đối với Mộc Thạnh:
 
Bích ba dĩ tẩy Trần vương hận,
Thanh thảo nan dà Mộc Thạnh tu.
 
(Sóng biếc đã rửa được hận của vua Trần, Cỏ xanh khó che khuất nét mặt xấu hổ của Mộc Thạnh - Quá Cổ Lộng thành)
 
Lòng tự hào dân tộc trong thơ Lê Quý Đôn không được biểu đạt bằng những lời khẳng định trực tiếp mà gửi gắm qua việc hồi cố các địa danh lịch sử và những chiến công chống ngoại xâm của dân tộc. Điều này cũng cho thấy không gian của thơ đi sứ Lê Quý Đôn không chỉ là “tha hương” hay “Trung Hoa” mà còn bao gồm cả quê hương đang dần lùi lại phía sau bước chân sứ giả. Chính trong quá trình đi qua những địa điểm mang ý nghĩa lịch sử và văn hóa ấy, các biểu tượng về lãnh thổ, non sông và truyền thống dân tộc được khơi dậy, tạo thành một lớp nền quan trọng cho ý thức quốc gia biểu hiện trong toàn bộ tập thơ đi sứ đồng thời cũng trở thành điểm tựa tinh thần để sứ thần đối diện và đối thoại với “Thượng quốc”.
Sang đến địa phận Trung Hoa, dễ nhận ra Lê Quý Đôn hầu như chủ động lưu lại dấu ấn thơ ca trên các địa danh và di tích văn hóa nổi tiếng của tuyến sứ trình như Hoàng Hạc lâu, Nhạc Dương lâu, Xích Bích, Động Đình, Tiêu Tương, Nhạc Lộc thư viện, Quốc Tử giám... Đây đều là những “không gian ký ức” của văn minh Hán, gắn liền với các bậc danh nhân và những kinh điển mà giới sĩ đại phu Đông Á đều quen thuộc. Cần chú ý rằng đây cũng là những điểm dừng chân được quy định sẵn trong lộ trình tiếp sứ của Thanh triều. Lớp lớp sứ thần Đại Việt đã đặt chân lên những “thánh địa văn hóa” này. Điều đáng nói là với tư chất của một nhà bác học, Lê Quý Đôn bước vào chuyến đi sứ không phải với tâm thế khám phá một thế giới hoàn toàn xa lạ, mà để kiểm chứng và mở rộng những tri thức đã tích lũy từ sách vở, hay nói cách khác, điều làm Lê Quý Đôn khác với khá nhiều sứ thần khác đó chính là ông không chỉ đặt chân đến một địa điểm, mà còn đem theo cả thư viện trong đầu đến địa điểm ấy. Chính sự gặp gỡ giữa ký ức sách vở và trải nghiệm thực địa đã tạo nên sắc thái rất riêng của thơ đi sứ Lê Quý Đôn. Đây chính là một trong những chìa khóa để đọc Quế Đường thi tập. Trong các bài đề vịnh, Lê Quý Đôn hầu như không chỉ dừng lại ở việc miêu tả cảnh sắc mà luôn đặt phong cảnh vào mối liên hệ với lớp trầm tích văn hóa và lịch sử của địa điểm qua việc nhắc đến Khuất Nguyên, Giả Nghị, Liễu Tông Nguyên, Mạnh Tử, Lưu Bang, Hàn Tín, Gia Cát Lượng, Tô Đông Pha, Chu Đôn Di, Nhạc Phi, Hạng Võ, Mã Viện, Quan Công và nhiều nhân vật khác. Nói cách khác, đối tượng đối thoại của ông không chỉ là cảnh vật trước mắt mà còn là lớp lớp danh nhân đi trước. Mỗi bài thơ vì thế vừa là sự đề vịnh danh thắng, vừa là ghi dấu sự hiện diện của bản thân trong không gian văn hiến ấy. Đáng chú ý hơn, dù những địa danh đó đã trở thành những biểu tượng kinh điển trong truyền thống thi ca Trung Hoa với dấu ấn của các tác gia lớn như Thôi Hiệu, Lý Bạch, Phạm Trọng Yêm hay Tô Đông Pha; bên cạnh đó là cả bút tích của những sứ thần đi trước như Nguyễn Trung Ngạn, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Tông Quai…; Lê Quý Đôn vẫn không hề né tránh mà ung dung nối tiếp các cuộc đối thoại văn chương từ trong lịch sử, nhiều lần chủ động họa thơ của tiền nhân, chẳng hạn như bài: “Đi qua Toàn Châu lên chùa Tương Sơn lễ Phật Vô Lượng Thọ, thăm bia cổ, xem bản vẽ và các ghi chép, thấy năm chương thơ của sứ thần nước ta là Lễ bộ Thượng thư Trương Công Tán và thơ hoạ gần đây của tiên sinh Lê Tốn Trai, kính cẩn hoạ nối tiếp”, thậm chí sáng tác liên tiếp một trăm bài thơ trong khoảng nửa tháng tại Tiêu Tương (Tiêu Tương bách vịnh)[1] và dường như chưa thỏa sức vẫy vùng, ông lại làm tiếp 30 bài riêng trong quá trình vượt hồ Động Đình (Tế Động Đình hồ tam thập vịnh). Ở đây chỉ dẫn một bài Tiêu Tương bách vịnh, bài số 4, nơi ông gọi tên Đỗ Phủ và Liễu Tông Nguyên:
 
Cộng truyền Lão Đỗ thiện thi danh,
 
Quỳ Hạp niên niên tú khí sinh.
 
Điểm xuất Linh Lăng sơn thủy hảo,
 
Nguyên Hòa tư mã cực tài tình.
 
(Người ta truyền rằng Lão Đỗ (Đỗ Phủ) nổi danh về tài thơ, và năm nào Quỳ Hạp cũng có tú khí sinh ra. Nhưng gợi ra được cái đẹp của non nước Linh Lăng, thì Tư mã đời Nguyên Hòa (Liễu Tông Nguyên) mới thực là tài tình tột bậc vậy)[2].
 
Qua bốn câu thơ có thể thấy Lê Quý Đôn am hiểu sâu sắc lịch sử văn học cũng như địa lý văn hóa vùng Tiêu Tương. Khi đặt Liễu Tông Nguyên trong thế đối sánh với Đỗ Phủ, ông thừa nhận địa vị “thi thánh” của Đỗ Phủ song đồng thời cũng khẳng định đóng góp đặc biệt của Liễu Tông Nguyên đối với không gian văn hóa Linh Lăng. Nếu Quỳ Châu là nơi góp phần làm nên giai đoạn chín muồi trong sáng tác của Đỗ Phủ, thì chính thơ văn của Liễu Tông Nguyên đã kiến tạo hình tượng văn hóa của Linh Lăng, khiến địa danh này trở thành một biểu tượng văn học trong truyền thống Trung Hoa. Cách bình phẩm ấy cho thấy Lê Quý Đôn không tiếp nhận di sản Hán học bằng thái độ sùng bái mà với tư cách một học giả có khả năng thẩm định và định giá lại các giá trị văn chương. Việc mạnh dạn đưa ra nhận định riêng ngay trong quá trình đi sứ cũng chính là biểu hiện của ý thức bình đẳng trong đối thoại với truyền thống văn hóa Hán từ vị thế của một trí thức Đại Việt. Phan Huy Chú sau này cũng nhận xét rằng Lê Quý Đôn “là người hạ bút thành văn”, “Cốt cách thơ trong sáng. Lời văn hồn nhiên..., không cần suy nghĩ mà trôi chảy dồi dào như sông dài biển cả, không chỗ nào không đạt tới, thật là phong cách đại gia”[3]. Nhận xét này giúp lý giải vì sao ông có thể tham dự vào cuộc đối thoại văn chương và văn hóa với truyền thống hàng nghìn năm trong không gian văn hóa Hán với một phong thái đĩnh đạc và tự tin đến thế.
 
Chùm thơ hai bài Vĩnh Châu sơ thu nhàn vọng tập cổ có thể coi là một ví dụ đẹp nhất cho phong thái đĩnh đạc và tự tin đó:
 
Hà xứ thu phong chí, thôn khư nãi nhĩ lương.
 
Trang yên phân mạc mạc, sơn thụ uất thương thương.
 
Tịch lộ tình sơ thấp, sa khê vãn cánh quang.
 
Khởi đồ tình dĩ miễn, viễn tư mãn Tiêu Tương.
 
(Gió thu từ đâu đến, Xóm làng mát mẻ sao. Khói đồng mờ mịt tỏa, Cây núi xanh um tùm. Sương chiều còn đọng ướt, Suối cát chiều ánh hơn. Vừa đi lòng đã nhớ, Giăng mắc ngập dòng Tương)[4].
 
Bài thơ được sáng tác theo lối tập cú, mỗi câu đều lấy từ thơ của một tác gia khác nhau trong truyền thống văn học Trung Hoa. Tám câu thơ lần lượt được tuyển từ sáng tác Lưu Vũ Tích đời Đường, Lục Du đời Nam Tống, Tạ Thiếu đời Nam triều, Tào Thực thời Tam Quốc, Đỗ Phủ đời Thịnh Đường, Khấu Chuẩn đời Bắc Tống, Đào Uyên Minh đời Đông Tấn, Tư Không Thự đời Trung Đường; nguyên tác thuộc nhiều thể loại khác nhau như ngũ ngôn tuyệt cú, ngũ ngôn luật thi và ngũ ngôn cổ thi. Tuy nhiên, qua sự lựa chọn và sắp đặt của Lê Quý Đôn, những câu thơ vốn độc lập đã được kết nối thành một chỉnh thể thống nhất, vừa hài hòa về niêm luật, vừa liền mạch về ý tứ, tái hiện cảnh sắc đầu thu thanh vắng mà khoáng đạt của vùng Tiêu Tương. Bài thơ thứ hai trong tập cũng được cấu tạo theo nguyên tắc tương tự, với các câu thơ lần lượt tuyển từ Chu Hưng Dư, Cao Thích, Thẩm Thuyên Kỳ, Đỗ Thẩm Ngôn, Lưu Trường Khanh, Vương Duy, Đỗ Phủ và Triệu Hà, tạo nên một bức tranh thiên nhiên Vĩnh Châu trong trẻo và giàu sức gợi.
Thủ pháp tập cú thuần thục trước hết cho thấy vốn Hán học uyên bác và khả năng vận dụng thơ Đường luật của Lê Quý Đôn, nhưng ý nghĩa của nó không dừng lại ở việc phô diễn tri thức. Việc sử dụng những câu thơ kinh điển như chất liệu để kiến tạo một tác phẩm mới cho thấy ông tiếp nhận truyền thống văn học Trung Hoa với tư cách một chủ thể sáng tạo chứ không phải người sao phỏng hay lặp lại. Những câu thơ của tiền nhân, khi được đặt vào một cấu trúc mới và phục vụ cho việc biểu đạt trải nghiệm của chính tác giả trên hành trình đi sứ đã mang một ý nghĩa mới. Bởi vậy, tập cú ở đây không chỉ là một kỹ xảo nghệ thuật mà còn là biểu hiện của quyền tham dự và đối thoại với truyền thống văn hiến Đông Á. Qua đó, Lê Quý Đôn khẳng định vị thế của một học giả Đại Việt có đủ năng lực tiếp nhận, chuyển hóa và tái kiến tạo di sản văn hóa Hán trong một chỉnh thể mang dấu ấn sáng tạo của riêng mình.
 
Như vậy có thể thấy, trong thơ đi sứ của Lê Quý Đôn, văn hiến không chỉ là vốn tri thức của cá nhân mà đã trở thành biểu tượng quốc gia. Thông qua những cuộc đề vịnh, xướng họa và đối thoại với truyền thống văn học Trung Hoa, ông khẳng định Đại Việt là một quốc gia có nền học thuật lâu đời, đủ tư cách tham gia và đóng góp vào không gian văn hóa Hán văn Đông Á. Chính nền văn hiến ấy trở thành “hộ chiếu văn hóa”, giúp sứ thần vượt qua những giới hạn của quan hệ triều cống để kiến tạo hình ảnh một quốc gia độc lập về bản sắc và bình đẳng về giá trị.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
 
1. Bài tựa tập Tiêu Tương bách vịnh đã viết: “Từ Vĩnh Châu đến Trường Sa trong vòng nửa tháng, gió lặng trời thanh, giang sơn quang đãng, nhìn cảnh vật mà lòng dâng niềm vui cảm, liền tùy hứng làm thành một số bài tuyệt cú”.
 
2. Trần Thị Băng Thanh dịch, Thiên Thai chỉnh lý thêm cho rõ ý.
 
3. Phan Huy Chú (1992). Lịch triều hiến chương loại chí, tập 3, mục Văn tịch chí. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Tr.136.
 
4. Thiên Thai dịch. Bài này không thấy trong Quế Đường thi tập do nhóm Trần Thị Băng Thanh tổ chức khảo cứu và dịch chú. Chúng tôi theo: Nguyễn Đình Phức dịch: (Thơ đi sứ chữ Hán của Việt Nam trong mối quan hệ với văn hóa Hồ Nam). Nguồn: https://khoavanhocngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_ content&view=article&id=2348:th-i-s-chhan-ca-vit-nam-trong-mi-quan-h-vi-vn-hoa-hnam-&catid=121:ht-vit-nam-trung-quc-nhngquan-h-vn-hoa-vn&Itemid=187.Truy cập ngày 15/07/2026. Bản dịch này cũng không dịch nghĩa hay dịch thơ trích dẫn trên.
Nguồn:baohungyen.vn
Tin liên quan