TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN, TOÀN QUÂN RA SỨC THI ĐUA THỰC HIỆN THẮNG LỢI NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG!
Tin tức hoạt động
Đăng ngày: 27/07/2026 - Lượt xem: 7
Tầm nhìn của Lê Quý Đôn về chủ quyền biển, đảo Việt Nam

.

(Lược trích bài viết của Phó Giáo sư, Tiến sĩ TRỊNH KHẮC MẠNH, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm)

Trong Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn mô tả khá chi tiết về quần đảo Hoàng Sa như sau “Xã An Bình huyện Bình Sơn phủ Quảng Ngãi ở gần biển, ngoài biển phía Đông Bắc có nhiều đảo, các núi nằm rải rác có đến hơn 130 ngọn, giữa các núi là biển, các núi cách nhau đi chừng một ngày đường hoặc vài canh giờ. Trên núi có suối nước ngọt. Trên đảo có bãi cát vàng, dài ước hơn 30 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong tận đáy. Bên vách đảo có nhiều tổ chim yến, số chim có đến hàng nghìn hàng vạn con, thấy người thì đậu vòng quanh không tránh. Đảo vật lạ rất nhiều. Ốc vằn thì có ốc tai voi to như chiếc chiếu, bụng có hạt to bằng ngón tay, sắc đục, không như ngọc trai, cái vỏ có thể đẽo làm tấm bài được, lại có thể nung vôi xây nhà. Có ốc xà cừ, để khảm đồ dùng, lại có ốc hương. Các thứ ốc đều có thể muối và nấu ăn được. Đồi mồi thì rất lớn. Có con hải ba tục gọi là trắng bông, giống đồi mồi mà nhỏ, vỏ mỏng có thể khảm đồ dùng, trứng bằng đầu ngón tay cái, muối ăn được. Có hải sâm tục gọi là con đột đột, bơi lội ở bên bãi, lấy về dùng vôi xát qua, bỏ ruột phơi khô, lúc ăn thì ngâm nước cua đồng cạo sạch đi, nấu với tôm và thịt lợn càng tốt. Các phiên thuyền gặp bão phần nhiều bị hỏng ở đây. Trước đây chúa Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, luân phiên nhau hàng năm cứ vào tháng Hai (có tài liệu ghi tháng Ba) nhận mệnh đi làm sai dịch, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền nhỏ ra biển, ba ngày ba đêm mới đến đảo này. Ở đấy tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hóa vật của tàu, như là gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, hòm bạc, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, cùng là lượm nhặt vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm hột ốc vằn rất nhiều. Đến kỳ tháng Tám thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong, cũng có người thì về không. Tôi đã xem sổ của Cai đội cũ là Thuyên Đức hầu biên rằng: Năm Nhâm Ngọ lượm được 30 hốt bạc, năm Giáp Thân được 5.100 cân thiếc, năm Ất Dậu được 126 hốt bạc. Từ năm Kỷ Sửu đến năm Quý Tỵ, 5 năm ấy chỉ được mấy tấm đồi mồi, hải ba. Cũng có năm được khối thiếc, bát sứ, 2 khẩu súng đồng mà thôi. Chúa Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải không có định suất bao nhiêu người, hoặc lấy người thôn Tứ Chính, hoặc người xã Cảnh Dương, phủ Bình Thuận, ai tình nguyện thì cấp giấy sai cho đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, đi thuyền câu ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai các đội Hoàng Sa kiêm quản. Chẳng qua là lấy các thứ hải vật, còn vàng bạc của quí ít khi lấy được. Hoàng Sa chính gần phủ Liêm Châu đảo Hải Nam, người đi thuyền có lúc gặp thuyền đánh cá Bắc quốc, có chào hỏi nhau trên biển”[1]. Xin xem các trang nguyên bản (trang 27a, 27b và 28a, 28b) [2].

Từ nội dung đoạn văn trên, chúng ta thấy Lê Quý Đôn đã khẳng định Hoàng Sa là lãnh thổ của Đại Việt xét trên một số phương diện.

- Về vị trí địa lý: Lê Quý Đôn cho biết “Quần đảo Hoàng Sa ngoài biển ở phía Đông Bắc xã An Bình huyện Bình Sơn phủ Quảng Ngãi (nay là đặc khu Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi)...[3] Các phiên thuyền gặp bão phần nhiều bị hỏng ở đây”. Bên cạnh việc khẳng định vị trí địa lý quần dảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam trong lịch sử, Lê Quý Đôn còn nói rõ vùng tiếp giáp cũng như quan hệ với phiên ngoại. Lê Quý Đôn cho biết: “Hoàng Sa chính gần phủ Liêm Châu đảo Hải Nam, người đi thuyền có lúc gặp thuyền đánh cá Bắc quốc, có chào hỏi nhau trên biển”.

Vị trí địa lý đã được xác định địa phận của một quốc gia quản lý, có thể khái quát trên mấy vấn đề như sau: Về tự nhiên, đó là khí hậu, địa hình, tài nguyên thiên nhiên và hệ sinh thái. Về kinh tế, tạo điều kiện phát triển nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, giao thông, du lịch và giao lưu kinh tế. Về chính trị và quốc phòng, có ý nghĩa trong việc bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia và mở rộng quan hệ đối ngoại. Về văn hóa xã hội, thúc đẩy giao lưu văn hóa, tiếp thu tri thức và tăng cường hợp tác giữa các vùng, các quốc gia. Có thể nói, vị trí địa lý là một trong những yếu tố quan trọng quyết định tiềm năng, lợi thế và định hướng phát triển của một quốc gia hoặc địa phương.

- Về điều kiện tự nhiên: Lê Quý Đôn ghi rõ “Quần đảo Hoàng Sa có nhiều đảo, các núi nằm rải rác có đến hơn 130 ngọn, giữa các núi là biển, các núi cách nhau đi chừng một ngày đường hoặc vài canh giờ. Trên núi có suối nước ngọt. Trên đảo có bãi cát vàng, dài ước hơn 30 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong tận đáy. Bên vách đảo có nhiều tổ chim yến, số chim có đến hàng nghìn hàng vạn con, thấy người thì đậu vòng quanh không tránh. Đảo vật lạ rất nhiều”.

Điều kiện tự nhiên thể hiện ở những lợi ích mà các yếu tố tự nhiên mang lại cho con người trong sự phát triển kinh tế xã hội. Cụ thể trên mấy vấn đề: Cung cấp tài nguyên thiên nhiên như đất, nước, rừng, khoáng sản và sinh vật phục vụ sản xuất và đời sống. Tạo điều kiện phát triển các ngành kinh tế như nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp, du lịch và năng lượng. Là môi trường sống của con người và sinh vật, duy trì cân bằng sinh thái. Ảnh hưởng đến phân bố dân cư và các hoạt động kinh tế, cũng như quy hoạch phát triển lãnh thổ. Có ý nghĩa đối với quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững nếu được khai thác, sử dụng hợp lý và gắn với bảo vệ môi trường. Có thể nói, điều kiện tự nhiên là nền tảng quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của con người, đồng thời tạo ra những lợi thế và cả những khó khăn đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

- Về nguồn hải sản, sản vật và hàng hóa từ tàu đắm: Lê Quý Đôn mô tả “Đảo vật lạ rất nhiều. Ốc vằn thì có ốc tai voi to như chiếc chiếu, bụng có hạt to bằng ngón tay, sắc đục, không như ngọc trai, cái vỏ có thể đẽo làm tấm bài được, lại có thể nung vôi xây nhà. Có ốc xà cừ, để khảm đồ dùng, lại có ốc hương. Các thứ ốc đều có thể muối và nấu ăn được. Đồi mồi thì rất lớn. Có con hải ba tục gọi là trắng bông, giống đồi mồi mà nhỏ, vỏ mỏng có thể khảm đồ dùng, trứng bằng đầu ngón tay cái, muối ăn được. Có hải sâm tục gọi là con đột đột, bơi lội ở bên bãi, lấy về dùng vôi xát qua, bỏ ruột phơi khô, lúc ăn thì ngâm nước cua đồng cạo sạch đi, nấu với tôm và thịt lợn càng tốt...”. Hay như: “Ở đấy tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hóa vật của tàu, như là gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, hòm bạc, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, cùng là lượm nhặt vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm hột ốc vằn rất nhiều...”

Hải sản và sản vật địa phương cũng như hàng hóa từ tàu đắm có nhiều giá trị quan trọng về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường. Về kinh tế: Là nguồn lợi về thực phẩm và nguyên liệu có giá trị cao, tạo việc làm cho người dân, tăng thu nhập và góp phần phát triển các ngành khai thác, nuôi trồng, chế biến, thương mại và du lịch. Về dinh dưỡng: Hải sản cung cấp nhiều protein, vitamin, khoáng chất và axit béo omega-3, giúp nâng cao sức khỏe con người. Nhiều sản vật mang hương vị đặc trưng. Về văn hóa: Hải sản và sản vật địa phương phản ánh nét đặc sắc của từng vùng miền, gắn liền với phong tục, lễ hội, ẩm thực và truyền thống của cộng đồng. Về du lịch: Các đặc sản địa phương thu hút du khách, góp phần quảng bá hình ảnh địa phương và thúc đẩy phát triển du lịch. Về môi trường: Khi được khai thác và sử dụng hợp lý, nguồn hải sản và sản vật địa phương góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững tài nguyên thiên nhiên. Có thể nói, hải sản và sản vật địa phương không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa, nâng cao đời sống người dân và thúc đẩy sự phát triển bền vững của mỗi địa phương.

Về sự hoạt động thường xuyên của người Việt: Theo ghi chép của Lê Quý Đôn có nhiều chi tiết cho thấy người Việt đã có hoạt động từ lâu, thường xuyên và có tổ chức tại quần đảo Hoàng Sa, chứ không chỉ là những chuyến đi ngẫu nhiên. Lê Quý Đôn ghi rõ: “Trước đây chúa Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, luân phiên nhau hàng năm cứ vào tháng hai nhận mệnh đi làm sai dịch, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền nhỏ ra biển, ba ngày ba đêm mới đến đảo này… Đến kỳ tháng 8 thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp...”. Hay như: “Chúa Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải không có định suất bao nhiêu người, hoặc lấy người thôn Tứ Chính, hoặc người xã Cảnh Dương phủ Bình Thuận, ai tình nguyện thì cấp giấy sai cho đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, đi thuyền câu ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai các đội Hoàng Sa kiêm quản”.

Như vậy, các đội Hoàng Sa được tổ chức thường xuyên, theo Lê Quý Đôn thì các chúa Nguyễn trước đây đã lập đội Hoàng Sa gồm khoảng 70 người, tuyển từ xã An Vĩnh (nay đặc khu Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi), đây là một đơn vị được nhà nước tổ chức và quản lý. Hoạt động diễn ra hằng năm, mỗi năm vào tháng Hai âm lịch đến khoảng tháng Tám thì trở về, điều này cho thấy hoạt động được tiến hành định kỳ, liên tục theo kế hoạch. Đội Hoàng Sa hoạt động rộng, không chỉ ở quần đảo Hoàng Sa mà còn kiêm quản cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, v.v... Từ những ghi chép trên, có thể rút ra là, người Việt đã ra Hoàng Sa từ lâu và thường xuyên, theo chu kỳ hằng năm, có tổ chức và dưới sự điều hành của chính quyền các chúa Nguyễn. Đây là một trong những nguồn sử liệu quan trọng khi nghiên cứu lịch sử hoạt động của người Việt tại khu vực Hoàng Sa...

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục (bản dịch, 1977), NXB.Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.119-120.

2. Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, ký hiệu A.184/1, Q.2, tr.27a-28b

3. Chỉ những đoạn lược không trích dẫn.

Nguồn:baohungyen.vn

Tin liên quan